Yếu tố xã hội với sức khỏe và vai trò của công tác xã hội

Tác giả:

Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế

Nhiều yếu tố xã hội tác động đến sức khỏe của con người. Trên khắp thế giới, còn rất nhiều người kém may mắn, không nhận được sự chăm sóc y tế đầy đủ, nên dễ mang bệnh và tuổi thọ ngắn hơn những người có ưu thế xã hội. Các bất công này ngày càng gia tăng mặc dù chúng ta đang sống vào giai đoạn toàn cầu hóa về mọi lĩnh vực. Trong khi đó thì các chính sách y tế đều tập trung vào giải quyết vấn đề bệnh tật mà ít để ý tới môi trường xã hội. Vì thế, nhiều khó khăn cho sức khỏe vẫn tồn tại.

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, “Sức khỏe là tình trạng hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật.” Một cơ thể không bệnh tật nhưng sống trong một môi trường xã hội bất ổn định chắc là không thể nào bình an, khỏe mạnh đựơc.

Các yếu tố xã hội ảnh hưởng tới sức khỏe không phải là khám phá mới lạ mà đã đựơc biết tới từ thuở xa xưa. Ðầu thế kỷ thứ 19, các nhà dịch tễ học đã biết được rằng rất nhiều khó khăn cho sức khỏe đều do những khiếm khuyết xã hội mà ra. Khi các khiếm khuyết này được điều chỉnh thì sức khỏe tốt hơn. Một bằng chứng là, trước khi khám phá ra thuốc trị bệnh lao, tử vong vì lao phổi giảm rất nhiều nhờ các cải thiện về điều kiện sinh sống, dinh dưỡng. Mới đây, kết quả nhiều quan sát, nghiên cứu đã xác nhận các ảnh hưởng này là có thật và rất quan trọng.

1. Yếu tố xã hội với sức khỏe

Đó là tất cả các hoàn cảnh không thuận lợi trong đó con người sinh sống và làm việc. Kể ra thì rất nhiều mà các yếu tố chính là: sự bất ổn về kinh tế, xã hội, chiến tranh; các điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển của trẻ em; sự không an toàn việc làm cho công nhân; môi trường sinh sống ô nhiễm; không đồng đều trong việc tiếp nhận chăm sóc y tế; kém phương thức phòng ngừa bệnh truyền nhiễm; quá nhiều tệ nạn xã hội đưa tới sinh hoạt tình dục bừa bãi, lạm dụng hóa chất có hại, cờ bạc; thực phẩm xấu, dinh dưỡng không đúng cách; kỳ thị chủng tộc, giới tính, tuổi tác…Cá nhân con người không giải quyết hết đựơc các yếu tố này mà đây phải là công việc của tập thể, trên mức độ cộng đồng, quốc gia.

Quan điểm chủ chốt của các nhà xã hội học sức khỏe là chính các đặc điểm xã hội của cá nhân mới là yếu tố quyết định sức khỏe của họ. Không giống với các thầy thuốc, khi gặp một người bệnh, các nhà xã hội học quan tâm đến nhóm xã hội mà cá nhân đó là thành viên và các điều kiện trong nhóm. Đối với các nhà xã hội học, yếu tố làm cho cá nhân bị bệnh hay bị tử vong không chỉ được giải thích đơn giản bằng đặc điểm về tính cách hay về sinh học. Vị trí xã hội của cá nhân trong hệ thống các mối quan hệ để có thể tiếp cận các nguồn lực là điều mà các nhà xã hội học sức khỏe quan tâm.

Để dễ dàng nhận xét những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, bài virts  đưa ra những nhóm yếu tố sau đây:

1.1. Cấu trúc xã hội

Cấu trúc xã hội bao gồm các đặc tính được thừa nhận trong xã hội theo thời gian liên quan đến sự khác biệt quan trọng (giai cấp xã hội, chủng tộc/dân tộc, tôn giáo, nông thôn/thành thị) giữa các nhóm người trong việc tiếp cận với nguồn lực vật chất, xã hội và tâm lý. Cấu trúc xã hội là một công cụ phân tích, nó giúp chúng ta hiểu được cách thức con người ứng xử trong đời sống xã hội.

1.2. Phân tầng xã hội

Là một trong những nội hàm quan trọng nhất của cấu trúc xã hội, chỉ sự phân bố không công bằng về các giá trị giữa các thành viên xã hội. Giá trị bao gồm 3 loại: tài sản, quyền lực, và danh dự.

Mọi xã hội đều có sự bất bình đẳng trong phân phối phần thưởng, người có nhiều người có ít, nhưng mức độ khác nhau. Nói cách khác, các xã hội phân tầng khác nhau.

Càng nghèo khó, thấp vế trong nấc thang xã hội thì bệnh hoạn càng tăng, càng lâu bình phục và tỷ lệ tử vong cũng cao. Kém kinh tế đã được nêu ra là nguyên nhân của căng thẳng tâm thần, bệnh tim, loét bao tử, tiểu đường loại 2, viêm xương khớp, vài loại ung thư và sớm lão hóa. Kém kinh tế còn khiến người bệnh không được hưởng chăm sóc y tế như những người giàu có.

Nhà ổ chuột kém vệ sinh, lương thực không đầy đủ, ít giáo dục thuở nhỏ, gò bó chịu đựng trong những việc làm vừa không an toàn vừa bất trắc, thiếu khả năng nuôi dậy con cái…Tất cả đưa tới căng thẳng tâm thần, xáo trộn gia đình, bệnh hoạn từ khi còn trẻ tới tuổi già.

Ðể giảm thiểu các yếu tố này, chính sách y tế phải nâng cao giáo dục thiếu niên, ồn định việc làm cho người dân, giảm cách biệt giàu nghèo cũng như san bằng bất công trong việc chăm sóc sức khỏe toàn dân.

1.3. Vị thế/địa vị xã hội

Đây là một yếu tố cơ bản của cấu trúc xã hội. Có hai loại vị thế xã hội:

+ Vị thế sẵn có hay vị thế tự nhiên : những vị thế có ngay từ khi cá nhân sinh ra, được thừa hưởng từ gia đình, dòng họ. Dân tộc, tôn giáo, màu da, giới… là những vị thế sẵn có.

+ Vị thế đạt được : những vị thế do nỗ lực cá nhân đạt được, ví dụ phần thưởng dành cho sinh viên giỏi.

Ðời sống sẽ rút ngắn khi mà chất lượng của cuộc sống giảm. Sự nghèo khó, kỳ thị và đặc quyền xã hội có ảnh hưởng lớn tới tình trạng sức khỏe và đưa tới tử vong non. Nghèo khó vẫn tồn tại ở các quốc gia giàu có, phát triển. Người vô gia cư sống lang thang trên hè phố, dân thất nghiệp, nhóm thiểu số, dân tỵ nạn, người tàn tật, thất nghiệp..đều dễ dàng bị suy yếu, bệnh tật.

Ngay tại các quốc gia giàu có nhất, người giàu hơn sẽ sống lâu hơn và có ít bệnh tật hơn là người nghèo. Sự khác biệt này là một bất công xã hội quan trọng và phản ảnh một số trong nhiều ảnh hưởng quan trọng nhất trên sức khỏe tại các quốc gia tiến bộ. Lối sống, điều kiện nơi ở, và nơi làm việc có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe và tuổi thọ.

Một chính sách công bằng xã hội về lương bổng, sự dễ dàng có việc làm, giảm nghèo khó, giảm bất công xã hội, phổ biến y học dự phòng, nâng cao giáo dục quần chúng…đều giúp con người có sức khỏe tốt hơn.

Địa vị xã hội được xác định một cách cụ thể, tích cực hoặc tiêu cực bởi sự đánh giá xã hội về sự ưu đãi, kính trọng. Sự kính trọng này có thể liên quan đến các giá trị được chia sẻ bởi số đông.

Như vậy địa vị xã hội về cơ bản là một hiện tượng nhận thức, trong đó các cá nhân hoặc nhóm được so sánh với người khác và nhóm khác về sự khác nhau dựa trên cơ sở một số đặc điểm hoặc phẩm chất được cho là có ý nghĩa trong xã hội đó.

1.4. Thiết chế xã hội

Là tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực quy định hành vi của cá nhân hay một nhóm xã hội, được thừa nhận rộng rãi, có khi được thể chế hóa (có quyền lực buộc phải theo) nhằm thoả mãn một nhu cầu đặc thù nào đó (tôn giáo, kinh tế, xã hội…). Gắn liền với khái niệm thiết chế xã hội là giá trị và chuẩn mực xã hội.

Chức năng của thiết chế: điều chỉnh hành vi con người phù hợp với quy phạm và chuẩn mực. Ngăn chặn và kiểm soát, giám sát những hành vi sai lệch với chuẩn mực qua hệ thống pháp luật hoặc dư luận xã hội.

2. Con người trong xã hội

2.1. Chăm sóc thuở ban đầu.

Ðầy đủ dinh dưỡng và an toàn của thai nhi cũng như của đứa bé sau khi sinh có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và sức khỏe trong suốt đời người. Khi mà mẹ nghiện rượu, thuốc lá thì thai nhi bị nhiều khuyết tật. Sinh ra mà cha mẹ nghèo túng không đủ tiền nuôi nấng dạy dỗ thì con cái hay bệnh tật, chậm phát triển cả trí tuệ lẫn thể chất. Và tới tuổi cuối đời thì cũng chịu nhiều ảnh hưởng xấu.

Do đó, chính quyền cần có các chương trình chăm sóc trẻ em, chăm sóc SKSS, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho mẹ và con; hướng dẫn quần chúng về giữ gìn sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật; mở rộng giáo dục học đường để mọi trẻ em có cơ hội học tập, mở mang kiến thức.

2.2. Căng thẳng (stress).

Các hoàn cảnh tâm lý xã hội xấu có thể tạo ra các căng thẳng triền miên cho con người. Họ sẽ trở nên luôn luôn lo sợ , không đối phó được. Chẳng hạn một việc làm không bảo đảm, một đời sống bấp bênh, một lo sợ chiến tranh, bất ổn xã hội, những thiếu thốn kém dinh dưỡng…Nếu chịu đưng stress triền miên là yếu tố đưa tới bệnh tim mạch, tai biến não, suy giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng trầm cảm, nhiễm trùng, cao huyết áp, bệnh tiểu đường…

Thường thường khi nói tới căng thẳng tâm thần là ta nghĩ tới dùng thuốc an thần, giảm buồn để chữa trị. Nhưng đó chỉ là “đau đâu chữa đấy”. Chính quyền phải có chương trình ngăn chặn sự xuất hiện các căng thẳng này cho người dân. Bằng hỗ trợ các gia đình có con vị thành niên, khích lệ các sinh hoạt cộng đồng, loại trừ cô lập xã hội, giảm thiều bất công vật chất tinh thần cũng như tăng cường giáo dục, khả năng phục hồi, thích nghi với hoàn cảnh xấu..

2.3. Điều kiện làm việc.

Các căng thẳng, khó khăn trong điều kiện làm việc đều là nguy cơ của gia tăng bệnh tật. Thoải mái trong môi trường làm việc giúp công nhân có sức khỏe tốt hơn.

Căng thẳng có thể là do làm việc quá sức, làm nhiều giờ, công việc không thích hợp với khả năng, không được góp ý kiến vào thiết lập kế hoạch việc làm, môi trường làm việc có nhiều nguy hiểm, không được hướng dẫn về việc làm, không được đối xử xứng đáng với chức vụ…

Chủ doanh nghiệp có bổn phận cung cấp cho công nhân việc làm và nơi làm việc an toàn; công nhân cần được góp ý vào bản chất của công việc; chế độ lương thưởng phải công minh, quản trị hữu hiệu; nơi làm việc có dịch vụ y tế tối thiểu để chăm sóc sức khỏe nhân viên, có tư vấn xã hội để giúp nhân viên giải quyết vấn đề liên quan tới việc làm và gia đình; thời khóa biểu làm việc thích hợp với khả năng và sức khỏe công nhân…Nếu công việc an toàn thì không những sức khỏe công nhân được bảo vệ mà năng xuất sản xuất cũng gia tăng, mang lại nhiều lợi nhuận cho chủ nhân.

2.4. Tình trạng thất nghiệp và không có việc làm

Sự lo sợ sẽ bị mất việc làm và sống trong tình trạng thất nghiệp gây ra nhiều ảnh hưởng xấu cho sức khỏe không những của công nhân mà cả gia đình họ nữa. Thất nghiệp đưa tới khủng hoảng tài chính, nợ nần, đời sống vật chất suy giảm, thiếu dinh dưỡng, suy nhược dễ bị bệnh tâm thần cũng như thể chất.

Chính quyền cần có các chính sách ngăn ngừa thất nghiệp, giảm thiểu khó khăn của công nhân khi mất việc bằng trợ cấp xã hội và tạo công ăn việc làm cho nhân dân.

2.5. Nghiện rượu, thuốc lá và các chất kích thích khác…

Lạm dụng rượu, thuốc lá, thuốc cấm nâng cao tỷ lệ tử vong vì bệnh tật, tai nạn. Dùng thuốc, rượu có thể tạm thời giải tỏa khó khăn về tinh thần, kinh tế nhưng trong trường kỳ, vấn đề lại trầm trọng hơn. Rượu đưa tới ung thư gan; thuốc lá gây ung thư phổi; thuốc cấm tạo bệnh tâm thần. Ngoài ra ảnh hưởng xấu của rượu thuốc cũng đưa tới xáo trộn gia đình, tội phạm xã hội.

2.6. Thực phẩm

Dinh dưỡng đầy đủ là yếu tố căn bản cho một sức khỏe tốt. Thiếu thực phẩm các loại đưa tới suy dinh dưỡng và một số bệnh tật. Mà ăn uống quá độ lại đưa tới nhiều bệnh về tim mạch, tiểu đường, ung thư, mập phì, sâu răng. Thực phẩm có nhiều chất béo, đường tinh chế gây ra mập phì nhiều hơn. Lý do là dân nghèo tiêu thụ nhiều thực phẩm chế biến hơn là thực phẩm tươi.

Nhà hữu trách cũng như xản xuất thực phẩm cần lưu ý cung cấp thực phẩm tươi nhiều chất dinh dưỡng cho mọi từng lớp dân chúng không phân biệt giàu nghèo; cung cấp các thông tin về thực phẩm, cách thức nấu nướng, chế độ dinh dưỡng đúng đắn cho mọi người; hỗ trợ sự nuôi trồng sản xuất để bảo vệ giá trị tự nhiên của thực phẩm…

Thực phẩm sạch và chế biến an toàn cũng là một yếu tố quan trọng, ngày nay khi xu hướng sử dụng ngày càng nhiều các chất tăng trưởng, các loại thuốc trừ sâu, các chất gia vị, phẩm màu…là nguy cơ ô nhiễm thực phẩm, tiềm tàng nguy cơ bệnh tật.

3. Vai trò của công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Công tác xã hội (CTXH) trong lĩnh vực y tế là hoạt động có tính chuyên nghiệp trợ giúp người thầy thuốc và người bệnh nhân, các cơ sở y tế với môi trường cộng đồng bệnh nhân sinh sống có khả năng tự giải quyết những khó khăn nảy sinh trong quá trình chăm sóc sức khỏe nhân dân và khám chữa bệnh. Có thể khẳng định CTXH có vai trò rất quan trọng với ngành y tế.

Trong thực tế, những trường hợp chữa trị khỏi về bệnh lý một thời gian sau lại tái phát quay trở lại. Trong y tế hiện nay nếu chỉ sử dụng kỹ thuật chuyên môn trong chẩn đoán, điều trị (chẩn đoán lâm sàng/hình ảnh, nội, ngoại, sản, nhi, đông y, tai mũi họng… thông qua chữa trị bằng thuốc, mổ, chữa trị vết thương về thể xác…) thì chưa đủ mà cần được chữa trị cả về những yếu tố xã hội (về tinh thần, tâm tư, những khó khăn bỡ ngỡ khi nhập viện, khi mắc bệnh, cách thức hợp tác với nhân viên y…).

Phần lớn những bệnh nhân chữa trị bệnh có hiệu quả, ngoài tác động về kỹ thuật chuyên môn y tế còn có yếu tố tinh thần của bệnh nhân, họ biết chấp nhận hiện tại, biết hợp tác với nhân viên y tế và tuân thủ quy trình khám chữa bệnh. Điều này chỉ có nhân viên CTXH mới làm được. Ngoài ra, trong từng trường hợp còn cần sự trợ giúp cả yếu tố tâm thần, kinh tế, luật pháp, nếu không có bộ phận hay nhân viên y tế có nghiệp vụ CTXH trong bệnh viện hay ở công đồng thì sẽ có rất nhiều vấn đề phát sinh, bức xúc xảy ra mà đôi khi được nâng lên thành những điển hình mang tính phổ biến.

Các chương trình y tế cộng đồng cũng rất cần sự trợ giúp về nghiệp vụ CTXH. Các chương trình y tế tại cộng đồng được truyền thông tốt, được hướng dẫn cụ thể cho người dân, người bệnh từ cách phòng bệnh đến phát hiện và chữa trị, hỗ trợ về tâm lý xã hội, kinh tế thì số lượng bệnh nhân phải nhập viện ở các tuyến, nhất là tuyến trung ương cũng sẽ giảm đi. Hiện nay, một số chương trình y tế cộng đồng cũng chưa có sự hợp tác của người dân vì họ cho rằng chương trình đó là của y tế, không phải của họ. Bởi vậy hiệu quả của một số chương trình y tế không được bền vững; hết chương trình cũng hết hoạt động.

Vì sự chăm sóc y tế chu đáo có thể kéo dài sự sống trong một số bệnh tật nhưng hoàn cảnh kinh tế xã hội bất ổn lại tạo ra nhiều khó khăn sức khỏe hơn.

Vì vậy, CTXH góp phần quan trọng giải quyết các mối quan hệ, các xung đột xã hội ngay trong các cơ quan hành chính quản lý y tế. Trong thực tiễn hiện nay, đội ngũ cán bộ trong các cơ quan, đơn vị hành chính quản lý y tế được đào tạo từ nhiều chuyên ngành, chuyên khoa khác nhau nhưng đều tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến con người, đến sức khoẻ cộng đồng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hoàng Bá Thịnh (2007). Bài giảng Xã hội học Sức khoẻ
  2. Tổ chức Y tế thế giới (1988). Giáo dục sức khỏe. Geneva
  3. Trường Cán bộ quản y tế (2000). Giáo dục sức khỏe và nâng cao sức khỏe. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội.
  4. Minh Lộc (2018). Sức khỏe và các yếu tố gây ảnh hưởng tới sức khỏe. Tạp chí Cộng sản, ngày 9/11/2018.
  5. Hồng Nhung (2022). Bất bình đẳng về sức khoẻ-Thực trạng và giải pháp. 13/4/2022 https://tapchimattran.vn/the-gioi/bat-binh-dang-ve-suc-khoe-thuc-trang-va-giai-phap-44704.html
Facebook
Twitter
LinkedIn
Email