Festival Huế: Đã đến lúc cần có một chiến lược tổng thể và bền vững

Tác giả: TS. Đặng Thanh Phú

Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Huế

Festival là loại hình lễ hội đóng vai trò cốt lõi trong phát triển du lịch bền vững ở nhiều nước trên thế giới nhờ tạo động lực thu hút khách hiệu quả và thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm và nguồn lực để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở tầm quốc gia lẫn địa phương. Với Huế, một địa phương vốn có nhiều lễ hội nổi bật cả về số lượng và chất lượng so với cả nước, song đến nay festival vẫn chưa thật sự được khai thác, phát triển hiệu quả và bền vững. Vậy cần giải pháp gì cho Huế?.  

Vai trò cốt lõi của Festival

Festival, hay được hiểu là lễ hội, thường ngụ đến các chuỗi sự kiện quy mô lớn, được tổ chức định kỳ hoặc được tổ chức một cách đặc biệt riêng lẻ nhằm kỷ niệm, hay tôn vinh các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo cũng như quảng bá du lịch và các ngành hàng.

Festival thường được phân loại thành festival văn hóa và truyền thống, festival nghệ thuật và âm nhạc, festival ẩm thực và đặc sản. Và đặc trưng cốt lõi của festival thường bao gồm tính cộng đồng, tính quy mô và tính thời điểm.

Trong phát triển du lịch bền vững, lễ hội hay Festival thường được thể hiện rõ nét ở các trụ cột chính, như: bảo tồn và phát huy di sản văn hóa (trụ cột văn hóa), nâng cao sinh kế và tạo việc làm (trụ cột kinh tế), quảng bá và định vị thương hiệu điểm đến (trụ cột điểm đến), trao quyền cho cộng đồng địa phương (trụ cột xã hội).

Festival có ý nghĩa lớn về văn hóa, duy trì các giá trị truyền thống và gắn kết được cộng đồng, vừa đáp ứng được các nhu cầu về tín ngưỡng, vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, du lịch tại các địa phương.

Chiến lược phát triển festival ở các nước

Ở nhiều nước trên thế giới, festival không chỉ để bảo tồn văn hóa mà đã thực sự trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều quốc gia đã biến lễ hội (festival) thành những sản phẩm du lịch độc đáo thông qua việc thương mại hóa chuyên nghiệp, ứng dụng công nghệ hiện đại và tổ chức các chuỗi sự kiện xuyên suốt trong năm.

Với Nhật Bản, quốc gia mặt trời mọc có chiến lược phát triển hết sức cụ thể về festival, trong đó dựa trên bốn nền tảng chính, đó là thương mại hóa gắn với du lịch và kinh tế, xây dựng thương hiệu và quảng bá quốc tế, bảo tồn di sản văn hóa và nghệ thuật, đa dạng hóa hình thức tổ chức. Nhật Bản đã phát triển lễ hội pháo hoa Sumidagawa, hay lễ hội ngắm hoa anh đào (Hanami) đem lại nguồn thu lớn cho đất nước từ các khoản chi tiêu như ăn uống, lưu trú và quà lưu niệm.

Lễ hội pháo hoa Sumidagawa, Nhật Bản. Nguồn: wonderworldtours.com.vn.

Việc phát triển lễ hội không chỉ tập trung ở vùng đô thị mà trái lại còn được phát triển ở các vùng nông thôn hẻo lánh để thu hút khách du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa địa phương. Điều này không những mang lại hiệu quả kinh tế cho vùng nông thôn, còn tạo ra hiệu ứng ngăn ngừa tình trạng suy giảm và già hóa dân số. Nhật Bản còn thiết kế lịch lễ hội trong cả bốn mùa, như mùa xuân với lễ hội Hanami, mùa hè với lễ hội múa và pháo hoa rực rỡ, mùa thu với lễ hội tạ ơn mùa màng và mùa đông với lễ hội tuyết Sapporo.

Cũng khá tương đồng với Nhật Bản, Hàn Quốc đã định vị lễ hội (festival) là trụ cột cốt lõi trong chiến lược “quyền lực mềm” (hay còn gọi là K-Culture) và công nghiệp văn hóa quốc gia của xứ sở kim chi nổi tiếng này. Điểm nổi bật của Hàn Quốc là sự kết hợp hoàn hảo giữa bản sắc truyền thống và công nghệ hiện đại, biến các lễ hội địa phương thành thương hiệu du lịch toàn cầu. Chiến lược lễ hội của Hàn Quốc bao gồm thúc đẩy quá trình thương hiệu hóa với quy mô lớn, gắn kết mạnh mẽ giữa lễ hội với các hoạt động du lịch và kinh tế, lồng ghép các hoạt động đổi mới sáng tạo và đa dạng hóa trải nghiệm, và hướng đến xuất khẩu văn hóa.

Với chiến lược này, chính phủ Hàn Quốc, thông qua Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tiến hành phân loại, đánh giá các lễ hội rất nghiêm ngặt, tiến đến lựa chọn các lễ hội xuất sắc đưa vào danh mục nhận được sự hỗ trợ ngân sách trực tiếp của chính phủ và được quảng bá mạnh mẽ trên thị trường quốc tế.

Lễ hội bùn Boryeong, Hàn Quốc. Nguồn: transviet.com.vn.

Điểm nổi bật khác của chiến lược này của Hàn Quốc là hình thành một chính sách Hallyu, trong đó khai thác mạnh mẽ các làn sóng văn hóa nước này như: K-Drama, K-Pop, ẩm thực để thu hút du khách trẻ và người hâm mộ quốc tế. Tổng Cục Du lịch Hàn Quốc (KTO) kết hợp các sự kiện lễ hội với những gói trải nghiệm chuyên biệt như K-Culture tour, Premium tour, đồng thời vận dụng chính sách miễn thị thực (visa) quá cảnh để tối đa hóa lượng khách chi tiêu cao.

Điểm giống nhau giữa Hàn Quốc và Nhật Bản là ở chỗ, các lễ hội của hai nước được thiết kế theo mùa với lợi thế địa lý tự nhiên tại địa phương. Với các loại hình này, các lễ hội nổi bật theo mùa ở Hàn Quốc có lễ hội câu cá hồi trên băng Hwacheon vào mùa đông, hay Lễ hội bùn Boryeong vào mùa hè. Ngoài ra, Hàn Quốc còn được xem là quốc gia đi đầu trong ứng dụng công nghệ và không gian mở trong phát triển lễ hội, như Lễ hội đèn lồng Jinju, được sử dụng nghệ thuật sắp đặt ánh sansgg quy mô lớn và kết hợp công nghệ trình diễn đa phương tiện để tạo điểm nhấn về thị giác.

Đức là một quốc gia châu Âu phát triển hiệu quả loại hình lễ hội thông qua sự kết hợp giữa bảo tồn di sản văn hóa truyền thống cũng như quy hoạch thương mại hóa chuyên nghiệp. Nước Đức luôn biến các “sự kiện địa phương” thành các “thương hiệu du lịch toàn cầu” nhằm tạo ra nguồn doanh thu khổng lồ cho nền kinh tế thông qua lưu trú, dịch vụ ăn uống và bán lẻ.

Trong “chiến lược” phát triển lễ hội, Đức thường đặt trọng tâm vào bảo tồn nguồn gốctiêu chuẩn hóa. Đây là nội dung được Đức quan tâm và thực hiện nghiêm ngặt. Các lễ hội như Lễ hội Bia Oktoberfest ở Munich, hay Chợ Giáng sinh (Weihnachtmärkte) duy trì sự “độc bản” thông qua các tiêu chuẩn khắt khe, ví như loại bia được phục vụ tạo Oktoberfest bắt buộc phải được sản xuất ngay tại các xưởng nấu bia truyền thống của Munich theo Đạo luật Tinh khiết.

Lễ hội Bia Đức (Oktoberfest) ở Munich, Đức. Nguồn: Britannica.

Các lễ hội ở Đức được lên lịch một cách “thông minh” nhằm kéo dài mùa du lịch. Trong các dịp lễ hội lớn, các thành phố chuyển đổi toàn diện hạ tầng giao thông công cộng và tăng cường kết nối quốc tế để phục vụ lượng khách khổng lồ (chỉ tính riêng Munich, doanh thu đem lại từ lễ hội đạt hơn 1 tỷ Euro mỗi năm).

Phát triển lễ hội ở Huế

Nhắc đến Huế, thường mọi người sẽ nghĩ ngay đây là thành phố của lễ hội, bởi thành phố này có đến hàng trăm các loại lễ hội lớn nhỏ khác nhau. Tuy nhiên, điều đáng nói là để lượng hóa được chính xác sẽ có bao nhiêu lễ hội (festivals) ở Huế thì cho đến nay chưa có tài liệu nào đưa ra được một số liệu cụ thể nhất định.

Lễ hội vật làng Sình. Nguồn: vinwonders.com.

Tuy vậy, khi bàn về lễ hội ở Huế, có thể nghĩ đến các loại lễ hội chính như: lễ hội truyền thống dân gian và tín ngưỡng, lễ hội cung đình, lễ hội Phật giáo, lễ hội ẩm thực và nghề, lễ hội đương đại, v.v… Các loại lễ hội này thường diễn ra quanh năm.

Theo đó, các lễ hội lớn, nổi bật của Huế có thể điểm đến như: lễ tế Nam Giao, lễ tế Xã Tắc, lễ Truyền Lô, hội vật Làng Sình, lễ hội Điện Hòa Chén, lễ hội Cầu Ngư (ở Thuận An, Vinh Hiền để cầu mùa biển yên sóng lặng), lễ Phật Đản, lễ hội Quán Thế Âm, lễ hội làng nghề truyền thống, lễ hội Bài Chòi, lễ hội đua ghe truyền thống, lễ hội Thanh Trà, lễ hội Áo Dài, v.v…

Ngoài ra, tùy thuộc vào mỗi vùng miền ở Huế, các lễ hội còn được chia theo đặc tính vùng miền, như: lễ hội vùng miền núi, lễ hội vùng đồng bằng, lễ hội vùng ven biển. Điều này cho thấy tính đa dạng, phong phú của các loại hình lễ hội của Huế.

Lễ hội vùng miền núi ở Huế. Nguồn: vietnamtourism.gov.vn.

Theo đó, lễ hội vùng miền núi gắn liền với đồng bào các dân tộc thiểu số, nơi cư dân có nền kinh tế nương rẫy lâu đời, do vậy lễ hội thường được tổ chức vào khoảng thời gian nông nhàn, sau mùa rẫy, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần, cũng như tạo ra những hình thức vui chơi nghĩ ngơi thư giản. Điều đáng nói, các lễ hội này thường có vai trò hết sức to lớn nhờ củng cố tinh thần đoàn kết tương trợ, ổn định xã hội, tạo không khí lành mạnh trong sinh hoạt cộng đồng ở đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây.

Trong khi đó, lễ hội vùng đồng bằng, nơi được xem là gắn các hoạt động sản xuất nông ngư nghiệp, thủ công nghiệp thì kéo theo các loại hình lễ hội cầu mưa, cầu mùa, lễ tế đến thờ khai canh, lễ tế tổ sư nghề nghiệp, lễ hội đua thuyền, v.v… với những điệu hò, câu lý trong lao động sản xuất, hò khoan đối đáp của trai gái trong làng. Tất cả điều này tạo nên những nét đẹp trong đời sống của người dân nông thôn quanh năm chân lấm tay bùn, cũng như đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần, tạo ra những hình thức vui chơi nghỉ ngơi.

Và lễ hội của cư dân ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là thành phố Huế lại gắn với tín ngưỡng của cư dân ven biển và thông qua lễ hội của cộng đồng cư dân nơi đây, các dạng thức văn hóa phi vật thể của di sản văn hóa biển đảo được lồng ghép làm cho lễ hội sinh động, tựa như hội bài chòi, hát múa bả trạo, trò diễn bủa lưới, các trò chơi dân gian như đua thuyền, đua ghe trên phá, v.v…

Nhìn chung, lễ hội đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của Huế nhờ bảo tồn được các di sản văn hóa Huế, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch của địa phương, cũng như gìn giữ và quảng bá hình ảnh văn hóa độc đáo của riêng Huế và cả của đất nước ra thế giới.

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là ở chỗ, lễ hội ở Huế hiện đang đứng trước các nguy cơ và rủi ro thách thức mai một, bởi: (i) tình trạng mất đi tính “nguyên bản” của các loại hình lễ hội do áp lực thương mại hóa với mục đích phục vụ đại trà dẫn đến sự méo mó, biến dạng các nghi thức cốt lõi và không gian thiêng liêng của lễ hội truyền thống; (ii) việc thiếu hụt các tài liệu lưu trữ, việc mất dần các “di sản sống” là những nhân chứng lịch sử thuộc lớp nghệ nhân và các bậc cao niên am hiểu sâu sắc các nghi thức, văn hóa của lễ hội xưa; (iii) sự thiếu đa dạng, linh hoạt, tinh tế, hiệu quả và bền vững giữa việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển các loại hình lễ hội truyền thống với cuộc sống đương đại.

Để Huế trở thành một thành phố lễ hội

Để Huế trở thành một thành phố lễ hội thật sự, nơi các lễ hội (festivals) không chỉ trở thành những “món ăn tinh thần” của người dân xứ Huế, mà còn góp phần vào việc bảo tồn các giá trị văn hóa, đóng góp vào phát triển du lịch, kinh tế, xã hội của Huế, đã đến lúc Huế cần có những giải pháp thiết thực hơn, cấp bách hơn để biến lễ hội trở thành một trong các động lực vững chắc giúp Huế phát triển xứng tầm với một thành phố Festival đặc trưng của đất nước và khu vực. Để làm được điều đó, cần có một số giải pháp sau:

Một là, Tiến hành rà soát, thống kê và phân loại các loại hình lễ hội (festival) của Huế; triển khai lập danh mục các lễ hội “xuất sắc” có tính đặc thù, tiêu biểu và nổi bật ở Huế để đưa vào danh sách các lễ hội cần sự hỗ trợ đầu tư từ phía ngân sách của địa phương. Đồng thời xây dựng và thực hiện chiến dịch quảng bá mạnh mẽ đối với các lễ hội tiêu biểu.

Hai là, Xây dựng một Chiến lược tổng thể để phát triển lễ hội của Huế, trong đó bao gồm đánh giá toàn diện các loại hình lễ hội của Huế, từ các loại hình cung đình, đến dân gian, tín ngưỡng, ẩm thực, âm nhạc, v.v…; đánh giá và đo lường cụ thể tác động của lễ hội đối với bảo tồn di sản văn hóa Huế, con người xứ Huế, với phát triển du lịch cũng như đóng góp của lễ hội vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. “Chiến lược Bảo tồn và Phát triển lễ hội Huế” cần nhắm đến bối cảnh phát triển của Huế sau khi sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp, cũng như đặt trong bối cảnh mới khi Huế là thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra, để đảm bảo tính phù hợp của Nghị quyết 54 của Bộ Chính trị đối với Huế, cần xác định và định vị đúng “thương hiệu” lễ hội Huế nhằm giúp Huế thật sự trở thành một thành phố Festival của quốc gia và khu vực, sớm đưa thương hiệu lễ hội Huế ra thế giới.

Ba là, Xem xét xây dựng “Bộ tiêu chí lễ hội” của Huế. Điều này sẽ giúp chuẩn hóa các sản phẩm lễ hội đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với văn hóa truyền thống của địa phương, và chuẩn hóa với phong cách, thái độ, và lối hành xử chuẩn mực của con người xứ Huế đối với lễ hội và văn hóa Huế. Việc chuẩn hóa các tiêu chí lễ hội cần được gắn liền với văn hóa bản địa của địa phương, của vùng miền nơi lễ hội được khởi xướng hình thành và phát triển. Ngoài ra, Bộ tiêu chí lễ hội còn tạo điều kiện để phát triển một hệ sinh thái về lễ hội và các dịch vụ đi kèm để từ đó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đồng thời tạo sinh kế cho chính người dân là chủ sở hữu của các lễ hội.

Bốn là, Cần có một cơ chế phù hợp để khuyến khích vai trò tham gia tích cực, chủ động và có trách nhiệm của cộng đồng địa phương nơi sản sinh ra các lễ hội. Bởi, chính người dân nơi đây là các chủ thể thực sự đối với các sản phẩm lễ hội mà họ sở hữu và trân quý, để từ đó ra sức bảo tồn và phát triển các lễ hội. Chính quyền và các nhà hoạch định chính sách ở Huế cần xem xét theo hướng đưa các lễ hội về đúng với nơi mà nó được khởi nguồn, thay vì đem các lễ hội đến đô thị trung tâm, bởi nếu làm được điều này, sẽ vừa giúp cho du khách trải nghiệm được văn hóa lễ hội truyền thống vùng miền, hiểu được các chủ thể của lễ hội, về văn hóa lễ hội và các nghi thức, lễ nghi bản địa, vừa giúp cho người dân hưởng lợi được từ chính các lễ hội mà họ có thông qua bán sản phẩm lễ hội từ hàng hóa, đến dịch vụ (lưu trú, ăn uống, lữ hành, trải nghiệm, v.v…). Và, quan trọng hơn nữa các địa phương có thể quảng bá được hình ảnh vùng miền của họ thông qua các hoạt động trải nghiệm của lễ hội.

Năm là, Tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong bảo tồn và phát triển lễ hội, trong đó các thành tựu về công nghệ như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ VR/AR, IoT, v.v… có khả năng giúp hiện đại hóa công tác quản lý và tối ưu hóa vận hành quản lý lễ hội, cũng như nâng tầm trải nghiệm cho du khách khi thưởng thức lễ hội. Việc ứng dụng công nghệ vào lễ hội giúp chuyển đổi mạnh mẽ từ hình thức truyền thống (đôi lúc có phần đơn điệu), sang một không gian văn hóa số sinh động, có tính toàn cầu hóa, song vẫn giữ được “hồn cốt” của nét văn hóa lễ hội. Hơn nữa, nó cũng giúp ích trong bảo tồn các di sản lễ hội khi sự tương tác trực tiếp giữa du khách với các sản phẩm của lễ hội và nhữn người sản sinh ra lễ hội, nhiều lúc tạo ra những rủi ro lớn không lường trước được, làm  ảnh hưởng đến sự an toàn và sức khỏe của họ.

Kết luận

Từ phân tích thực trạng các lễ hội của Huế, cũng như tham khảo các mô hình hay về bảo tồn và phát triển lễ hội của các nước, có thể thấy, đã đến Huế cần có một sự mạnh dạn lớn trong suy nghĩ, cách làm và cách nghĩ về lễ hội mang phong cách riêng của Huế. Lễ hội nên là một nét văn hóa truyền thống, là thành tố của văn hóa và thể hiện bản sắc văn hóa Huế. Cần dẹp bỏ, hay nghiêm khắc hơn với lễ hội để loại bỏ những biến tướng, hay vấn đề thương mại hóa và sự pha trộn nhiều tạp chất làm ảnh hưởng đến nét văn hóa đẹp của lễ hội. Lễ hội Huế cần sự trang nghiêm, song cũng cần một sự gần gũi với cộng đồng người dân để họ cảm nhận được đúng vai trò chủ thể đối với các sản phẩm lễ hội của chính họ. Với chính quyền, cần tạo những cơ chế rõ ràng, thiết thực, hiệu quả, sát với thực tiễn để tạo điều kiện cho người dân bảo tồn và phát triển lễ hội, để tạo điều kiện cho người dân, những người hưởng lợi trực tiếp từ lễ hội, có thể tương tác trực tiếp, và kể những câu chuyện lễ hội cho du khách. Chính quyền chỉ nên “lọc” lại những lễ hội có tính lễ nghi, cung đình, trang trọng để đầu tư, gia cố bài bản để thể hiện trách nhiệm của Nhà nước với di sản, bảo vật quốc gia (lễ hội), song cũng nên, ở chừng mực nào đó, khuyến khích sự tham gia từ phía người dân. Có vậy, lễ hội Huế mới thực sự được bảo tồn, phát triển một cách đích thực, bền vững, và đúng với Huế./.

Facebook
Twitter
LinkedIn
Email