Sự kiện El Niño 2026-2027 qua thông tin giám sát quốc tế: xác minh, cấu trúc và ý nghĩa dự báo cho Huế

Tác giả: TS Hồ Đắc Thái Hoàng

1. Đặt vấn đề

Từ cuối tháng 8/2026, các cơ quan khí tượng lớn liên tiếp cảnh báo về một El Niño có cường độ chưa từng thấy trong chuỗi quan trắc hiện đại. Gần như cùng lúc, Bangkok và Nam Bộ hứng những đợt mưa kéo dài, có nơi ngập diện rộng. Hai quan sát này trái chiều. Văn liệu khí hậu học Đông Nam Á, từ tổng hợp của Juneng và Tangang (2005) đến bản tin của Trung tâm Khí tượng chuyên biệt ASEAN (ASMC, 2026b), đều coi thiếu mưa là biểu hiện điển hình của El Niño ở khu vực trong mùa thu năm sự kiện phát triển.

Câu hỏi đặt ra vì thế mang tính kiểm định: mưa cuối tháng 9 là dấu hiệu của El Niño, hay là dị thường nội mùa và synop chồng lên một nền khô do El Niño tạo ra? Lời giải quyết định cách đọc rủi ro cho Huế, nơi tháng 10-11 vừa là đỉnh mùa mưa lũ vừa là thời điểm El Niño 2026 dự kiến đạt cực đại.

2. Nguồn tư liệu và quy tắc đối chiếu

Khảo sát dữ liệu theo 3 hướng tiếp cận. Hướng thứ nhất là bản tin chính thức của CPC/NOAA, JMA, BoM, WMO, IRI và ASMC. Hướng thứ hai là phân tích chuyên ngành của Carbon Brief và Weathernews, chỉ dùng để diễn giải. Hướng thứ ba là báo chí quốc tế từ các nguồn CNN, Al Jazeera, The Star, CNews, Météo Paris, Berliner Zeitung, daswetter.comtenki.jp, Weathernews, chỉ dùng để dựng niên biểu sự kiện.

Quy tắc đối chiếu áp dụng nhất quán về trạng thái ENSO phải được ít nhất hai cơ quan độc lập xác nhận; khi các con số lệch nhau, nguyên nhân phải được truy về vùng chỉ số hoặc đường nền trước khi kết luận.

3. Xác minh trạng thái ENSO

3.1. Hài hòa chỉ số

Thoạt nhìn, các con số được công bố có vẻ mâu thuẫn. CPC (2026a) báo cáo Niño-3.4 tháng 8 là +1,8°C, trong khi JMA (2026) báo cáo +3,4°C cho cùng tháng, vượt giá trị tháng 8 cao nhất trước đó của năm 1997. Hai giá trị không loại trừ nhau. JMA tính trên vùng NINO.3, lệch về phía đông và chịu ảnh hưởng mạnh của vùng biển ven Nam Mỹ, với đường nền là trung bình 30 năm trước năm xét. CPC dùng chỉ số tương đối RONI, tức đã trừ dị thường trung bình của toàn dải nhiệt đới. Vùng tính khác, đường nền khác, độ lớn tất yếu khác. Bảng 1 đặt các con số chủ chốt cạnh nhau.

Bảng 1. Chỉ số giám sát El Niño do các cơ quan công bố, tháng 8-9/2026

Cơ quan Chỉ số và vùng tính Giá trị Thời điểm
CPC/NOAA Niño-3.4, chỉ số tương đối (RONI), tháng +1,8°C Tháng 8; công bố 10/9/2026
CPC/NOAA Niño-1+2, tháng +3,4°C Tháng 8; công bố 10/9/2026
CPC/NOAA Niño-4, tháng +0,1°C Tháng 8; công bố 10/9/2026
JMA NINO.3 (5°N-5°S, 150°W-90°W), nền 30 năm trước năm xét +3,4°C Tháng 8; công bố 9/9/2026
IRI Niño 3.4, tuần +3,0°C Tuần quanh 16/9/2026
BoM Niño3.4 tương đối, tuần (ngưỡng El Niño +0,8°C) +2,72°C Tuần đến 27/9/2026
Carbon Brief Niño 3.4, ngày, quy ước ONI +3,11°C Giữa tháng 9/2026

Nguồn: CPC (2026a), JMA (2026), IRI (2026), BoM (2026a), Carbon Brief theo daswetter.com (2026b).

3.2. Bằng chứng

Lớp đại dương thống nhất. Ngoài dị thường mặt biển, CPC (2026a) ghi nhận nêm nhiệt sâu hơn bình thường và chỉ số nhiệt dưới mặt giữ ổn định ở mức cao trong tháng 8, tức lượng nhiệt dự trữ còn đủ nuôi sự kiện thêm nhiều tháng.

Lớp khí quyển cũng thống nhất. Chỉ số dao động phương Nam (SOI) 30 ngày đến 27/9 là -20,5, thấp xa ngưỡng El Niño -7 (BoM, 2026a). JMA (2026) ghi nhận tín phong tầng thấp ở trung tâm Thái Bình Dương xích đạo yếu rõ rệt, đối lưu tăng quanh kinh tuyến đổi ngày. BoM (2026b) mô tả từ tháng 5 đến nay gió tây và mây tăng chiếm ưu thế ở tây và trung Thái Bình Dương, trong khi mây giảm trên Lục địa biển. Bản cập nhật MJO của CPC ngày 28/9 xác nhận El Niño đang chi phối toàn dải nhiệt đới, đến mức tín hiệu MJO khó tách khỏi trạng thái nền (CPC, 2026b).

Lớp dự báo hội tụ cao bất thường. Cả 22 mô hình trong tập hợp của IRI dự báo El Niño “rất mạnh” từ SON 2026 đến DJF 2026-27; xác suất El Niño là 100% đến tháng 2/2027 và còn 61% vào giữa năm 2027 (IRI, 2026). WMO (2026) dự báo Niño 3.4 trung bình mùa SON khoảng 3,6°C, đỉnh vào tháng 11-12. CPC (2026a) đánh giá 75% khả năng sự kiện OND 2026 vượt mọi El Niño kể từ 1950. Mô hình của JMA cho cận dưới dự báo tháng 11 ở vùng NINO.3 từ +4,0°C trở lên (Weathernews, 2026a).

Như vậy, El Niño đã trở lại, đã ở mức rất mạnh và còn mạnh thêm. Có một sắc thái cần giữ. Carbon Brief ghi nhận dị thường ngày 3,11°C, vượt mốc 3,08°C ngày 18/11/2015, và đầu tháng 9 dị thường đã trên 3°C trong khi cùng kỳ năm 1997 và 2015 chỉ khoảng 1,9°C (daswetter.com, 2026b). Nhưng cũng theo Carbon Brief (2026), giá trị RONI ngày vẫn thấp hơn kỷ lục ngày của sự kiện 1982-83. Kỷ lục ngày theo một quy ước chưa phải kỷ lục mùa theo quy ước chính thức.

4. Cấu trúc không gian của sự kiện

Phân bố chỉ số cho thấy một El Niño kiểu Đông Thái Bình Dương (EP) điển hình. Trong tháng 8, Niño-1+2 đạt +3,4°C trong khi Niño-4 chỉ +0,1°C (CPC, 2026a). Ben Noll, được daswetter.com (2026a) dẫn lại, cho biết Niño-1+2 ngoài khơi Peru và Ecuador từng đạt 4,8°C trên trung bình, vượt kỷ lục năm 1983. JMA (2026) ghi nhận mặt biển tây Thái Bình Dương xích đạo lạnh hơn bình thường.

Cấu hình này khác hẳn dạng El Niño trung tâm, hay “Modoki” (Ashok và cs., 2007; Kao và Yu, 2009). Nguồn nhiệt dị thường nằm sâu ở phía đông, kéo nhánh lên của hoàn lưu Walker khỏi Lục địa biển và đặt nhánh giáng lên vùng biển Indonesia, Philippines và Biển Đông. Đây là cơ chế vật lý giải thích vì sao BoM (2026b) thấy mây giảm trên Lục địa biển. Điểm khác biệt lớn nhất so với 1982-83, 1997-98 và 2015-16 là thời điểm: cực đại dị thường đến sớm khoảng hai tháng. Hệ quả chưa rõ là pha suy giảm có đến sớm theo hay không.

5. Mưa lớn ở Bangkok và Nam Bộ: phân định nhân quả

Phân tích phải tách bốn thang thời gian. Ở thang mùa, nền là thiếu mưa. JMA (2026) xếp tình trạng ít mưa ở phần nam Đông Nam Á trong tháng 8 vào nhóm đặc điểm phù hợp với El Niño. ASMC (2026a) dự báo cho OND 2026 khả năng cao lượng mưa dưới chuẩn ở một phần phía đông bán đảo Đông Dương và phần lớn Lục địa biển. Song cho SON, ASMC (2026b) thừa nhận phần lớn bán đảo Đông Dương có độ đồng thuận mô hình thấp. Nền khô vì thế là xu thế xác suất, không phải điều kiện loại trừ mưa lớn.

Ở thang synop, nguyên nhân trực tiếp đã rõ. Sở Khí tượng Thái Lan quy mưa cho một vùng áp thấp mạnh lên kết hợp với gió mùa tây nam (U.S. Embassy Bangkok, 2026). Gần 300mm mưa trong 48 giờ (CNN, 2026), khoảng 320mm trong ba ngày trên nền mưa tích lũy từ 16 đến 28/9 (IQAir, 2026), khiến chính quyền công bố toàn bộ 50 quận là vùng thảm họa (Al Jazeera, 2026). Weathernews (2026a) nêu thêm một quan sát: gió mùa Nam Á chuyển từ hướng tây nam sang hướng tây, mang hơi nước từ vịnh Bengal và Biển Đông đi xa. Nếu được xác nhận, đó là cơ chế tái phân bố ẩm tương thích với nền El Niño, cho phép mưa cục bộ cực đoan dù tổng lượng mùa giảm.

Ở thang nội mùa, MJO kinh điển có thể loại khỏi danh sách nguyên nhân chính. BoM (2026b) xác định MJO nằm ở Tây Bán cầu tính đến 20/9, tức xa vùng Ấn Độ Dương và Lục địa biển trong thời gian mưa lớn. Tuy vậy, CPC (2026b) phát hiện một tín hiệu nội mùa thứ cấp đi qua Lục địa biển và hòa vào vùng đối lưu tần thấp ở Đông Bán cầu. Tín hiệu này chiếu kém lên chỉ số RMM (Wheeler và Hendon, 2004) nên dễ bị bỏ sót. Vai trò của nó đối với mưa ở Bangkok còn để ngỏ.

Ở thang địa phương, ngập ở TP. Hồ Chí Minh có cấu trúc khác. Benjamin Horton (City University of Hong Kong), được The Star (2026) dẫn lời, cho rằng biến đổi khí hậu khuếch đại rủi ro ngập qua tương tác với đô thị hóa nhanh và sụt lún đất do khai thác nước ngầm; một phần ngập cuối tháng 9 trùng với đợt triều cường cao nhất năm. Kết luận của mục này chỉ có thể là mệnh đề có điều kiện: mưa cuối tháng 9 tương thích với nền El Niño chứ không mâu thuẫn với nó, nhưng chưa thể quy cho El Niño khi chưa có nghiên cứu quy kết sự kiện.

6. Các kênh truyền tác động tới Trung Bộ

Kênh thứ nhất là xoáy nghịch dị thường Tây Bắc Thái Bình Dương. Theo Wang và cs. (2000), xoáy nghịch này hình thành vào mùa thu năm El Niño phát triển, do phản ứng Rossby với vùng giáng dị thường ở tây Thái Bình Dương. Theo Xie và cs. (2009), hiệu ứng “tụ điện” của Ấn Độ Dương kéo dài nó sang mùa hè năm sau. Sườn tây của xoáy nghịch đặt Trung Bộ dưới dòng giáng, bất lợi cho mưa.

Kênh thứ hai là dịch chuyển vùng sinh bão. Thống kê của JMA được tenki.jp (2026a) nhắc lại cho thấy khi có El Niño, nơi hình thành bão thường lệch về phía đông nam. Weathernews (2026b) dự báo cho tháng 9-11 rằng bão dễ hình thành quanh Guam và phía đông nam, còn vùng biển phía đông Philippines thì khó hơn. Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương vẫn rất hoạt động, với 25 cơn bão nhiệt đới tính đến 21/9 (BoM, 2026b). Vấn đề vì thế không nằm ở số lượng bão mà ở quỹ đạo: bão sinh xa về phía đông có xu hướng chuyển hướng lên phía bắc trước khi tới Biển Đông. Giả thuyết này cần được kiểm định bằng số liệu quỹ đạo thực tế của mùa 2026. Biển Đông vẫn sinh nhiễu động; tenki.jp (2026a) ghi nhận một áp thấp nhiệt đới dự kiến hình thành phía tây Philippines ngày 11/9.

Kênh thứ ba quan trọng nhất với Huế và ít phụ thuộc ENSO nhất. Yokoi và Matsumoto (2008) chứng minh mưa cực đoan ở Trung Bộ sinh ra từ tương tác giữa đợt gió mùa đông bắc (cold surge) và nhiễu động dạng áp thấp nhiệt đới, được địa hình Trường Sơn khuếch đại. Cơ chế này có thể vận hành trong năm El Niño, miễn là hai thành phần gặp nhau đúng thời điểm.

Kênh thứ tư là lưỡng cực Ấn Độ Dương (IOD). Chỉ số IOD tuần đến 27/9 là +0,76°C, trên ngưỡng nhưng chưa đủ bền để công nhận sự kiện (BoM, 2026a). WMO (2026) dự báo trung bình SON khoảng 0,9°C; ASMC (2026b) dự báo IOD dương trong tháng 9-10, về trung tính vào tháng 1/2027. IOD dương thường củng cố nền khô trên Lục địa biển, nên có thể khuếch đại kênh thứ nhất. Bốn kênh vì vậy không cùng chiều: hai kênh đầu và kênh thứ tư hạ xác suất mưa lớn kéo dài, kênh thứ ba giữ nguyên rủi ro mưa cực đoan đơn lẻ.

7. Kịch bản dự báo cho Huế

Kịch bản thứ nhất là tháng 10-12/2026. Tổng lượng mưa mùa nhiều khả năng dưới chuẩn, nhất quán với dự báo OND của ASMC (2026a) cho phía đông bán đảo Đông Dương. Không thể loại trừ một đợt mưa cực đoan đơn lẻ theo kênh thứ ba. Thông điệp cho công tác phòng, chống thiên tai phải tránh suy diễn “năm El Niño thì an toàn”. Chỉ báo theo dõi gồm cường độ và thời điểm các đợt gió mùa đông bắc cùng nhiễu động nhiệt đới hình thành trên Biển Đông.

Kịch bản thứ hai là tháng 1-6/2027. Phần lớn mô hình C3S cho El Niño bắt đầu suy yếu từ tháng 12/2026-1/2027 nhưng vẫn trên ngưỡng mạnh 1,5°C vào đầu năm 2027 (ASMC, 2026b). Kết hợp với cơ chế “tụ điện” Ấn Độ Dương, rủi ro chuyển sang hạn khí tượng, nắng nóng sớm và xâm nhập mặn vào hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai khi dòng chảy kiệt trùng triều cao. Chỉ báo theo dõi gồm lượng mưa tích lũy mùa khô, độ mặn tại các điểm quan trắc đầm phá và mực nước hồ chứa thượng nguồn.

Kịch bản thứ ba là nửa cuối năm 2027. Xác suất El Niño giảm còn 61% vào giữa năm (IRI, 2026), mở khả năng chuyển pha sang trung tính hoặc La Niña. Tiền lệ cần phân tích kỹ là trận lũ tháng 11/1999 ở Huế, xảy ra trong pha La Niña sau siêu El Niño 1997-98. Rủi ro lũ lớn nhất, nếu tiền lệ này lặp lại, nằm ở năm sau đỉnh chứ không ở năm đỉnh.

8. Hạn chế và kết luận

Cỡ mẫu siêu El Niño chỉ gồm bốn sự kiện (1982-83, 1997-98, 2015-16 và 2026-27), mỗi sự kiện một cấu hình riêng, nên lập luận theo năm tương tự có độ tin cậy thấp. Nền đại dương ấm lên toàn cầu làm lệch các ngưỡng thống kê lịch sử (Cai và cs., 2014). Báo chí Pháp và Đức trong kịch bản khảo sát gần như chỉ bàn tác động lên châu Âu; Météo-France và DWD đều nhấn mạnh không thể quy bão hay lũ ở châu Âu cho El Niño (CNews, 2026; Berliner Zeitung, 2026). Hai ngôn ngữ này vì thế đóng góp chủ yếu ở mặt phương pháp luận. Bản chẩn đoán CPC ngày 8/10 và bản tin JMA số 409 chưa công bố tại thời điểm khảo sát (5/10/2026).

Kết luận chỉ khẳng định những gì ba lớp bằng chứng cùng ủng hộ. El Niño 2026-2027 đã trở lại, mang cấu trúc Đông Thái Bình Dương và có khả năng cao trở thành sự kiện mạnh nhất trong chuỗi quan trắc hiện đại. Mưa lớn ở Bangkok và Nam Bộ là dị thường synop trên nền thiếu mưa, không phải biểu hiện trực tiếp của El Niño. Với Huế, mùa lũ 2026 ít nước hơn về tổng lượng nhưng chưa an toàn về cực trị; rủi ro chính dời sang hạn, mặn nửa đầu 2027 và lũ lớn ở năm chuyển pha. Các vấn đề còn lại giữ ở dạng giả thuyết, chờ kiểm chứng bằng các bản tin tháng 10.

Tài liệu tham khảo

Ashok, K., Behera, S. K., Rao, S. A., Weng, H., & Yamagata, T. (2007). El Niño Modoki and its possible teleconnection. Journal of Geophysical Research, 112, C11007.

Cai, W., Borlace, S., Lengaigne, M., và cs. (2014). Increasing frequency of extreme El Niño events due to greenhouse warming. Nature Climate Change, 4, 111-116.

Juneng, L., & Tangang, F. T. (2005). Evolution of ENSO-related rainfall anomalies in Southeast Asia region and its relationship with atmosphere-ocean variations in Indo-Pacific sector. Climate Dynamics, 25, 337-350.

Kao, H.-Y., & Yu, J.-Y. (2009). Contrasting Eastern-Pacific and Central-Pacific types of ENSO. Journal of Climate, 22, 615-632.

Wang, B., Wu, R., & Fu, X. (2000). Pacific-East Asian teleconnection: How does ENSO affect East Asian climate? Journal of Climate, 13, 1517-1536.

Wheeler, M. C., & Hendon, H. H. (2004). An all-season real-time multivariate MJO index. Monthly Weather Review, 132, 1917-1932.

Xie, S.-P., Hu, K., Hafner, J., Tokinaga, H., Du, Y., Huang, G., & Sampe, T. (2009). Indian Ocean capacitor effect on Indo-western Pacific climate during the summer following El Niño. Journal of Climate, 22, 730-747.

Yokoi, S., & Matsumoto, J. (2008). Collaborative effects of cold surge and tropical depression-type disturbance on heavy rainfall in central Vietnam. Monthly Weather Review, 136, 3275-3287.

ASMC (2026a). Seasonal Forecast for October-December 2026. ASEAN Specialised Meteorological Centre. https://asmc.asean.org/home/

ASMC (2026b). Seasonal Outlook; El Niño/La Niña outlook, tháng 9/2026. https://asmc.asean.org/asmc-seasonal-outlook/; https://asmc.asean.org/asmc-el-nino/

BoM (2026a). Climate Driver Update, 29/9/2026. Bureau of Meteorology. https://www.bom.gov.au/climate/enso/

BoM (2026b). Tropical Climate Update, 22/9/2026. https://www.bom.gov.au/climate/tropical-note/

CPC (2026a). ENSO Diagnostic Discussion, 10/9/2026. NOAA Climate Prediction Center.

CPC (2026b). Madden-Julian Oscillation: Recent Evolution, Current Status and Predictions, 28/9/2026.

IRI (2026). ENSO Forecast, September 2026 Quick Look, 21/9/2026. Columbia University.

JMA (2026). エルニーニョ監視速報 No.408, 9/9/2026. 気象庁 大気海洋部.

WMO (2026). Global Seasonal Climate Update for September-October-November 2026, 3/9/2026.

Al Jazeera (2026). Disaster zone declared across Bangkok as heavy rain triggers flooding, 26/9/2026.

Berliner Zeitung (2026). Der Pazifik kocht: Ein Monster-El-Niño baut sich auf, 30/9/2026.

Carbon Brief (2026). Analysis: ‘Super El Niño’ breaks ‘remarkable’ all-time record, tháng 9/2026.

CNews (2026). «Super El Niño»: quel impact réel le phénomène météorologique pourrait-il avoir en France ?, 8/9/2026.

CNN (2026). Thai capital Bangkok declared disaster zone amid widespread flooding, 26/9/2026.

daswetter.com (2026a). El Niño 2026-2027 könnte einen rekordverdächtigen Höhepunkt erreichen, tháng 9/2026.

daswetter.com (2026b). El Niño erreicht ein Ausmaß, das zu dieser frühen Jahreszeit noch nie beobachtet wurde, 5/10/2026.

IQAir (2026). Bangkok and Central Thailand flooding, 30/9/2026.

tenki.jp (2026a). 新たに「台風のたまご」発生へ エルニーニョ現象発生時の特徴は, 10/9/2026.

The Star (2026). Vietnam’s Ho Chi Minh City learning to live with floods but climate change has raised the stakes, 1/10/2026.

U.S. Embassy Bangkok (2026). Weather Alert: Heavy Rain and Flooding throughout Thailand, 26/9/2026.

Weathernews (2026a). エルニーニョ現象が強化され過去最大の偏差に迫る, 9/9/2026.

Weathernews (2026b). スーパーエルニーニョ発生予想の今年、台風発生数は平年より多い「28個」, 2026.

Facebook
Twitter
LinkedIn
Email