Tác giả: Trần Như Đăng Tuyên
Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật
Tại Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 20/7/2026, Bộ Chính trị ban hành về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của các hội quần chúng trong giai đoạn phát triển mới đã xác định nhiệm vụ “hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hội quần chúng với mục đích phát huy đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm, nguồn lực của các hội quần chúng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước”.
Từ những định hướng trên, bài viết này sẽ nghiên cứu các cơ chế, chính sách trong giai đoạn gần đây để xác định những nội dung phù hợp nhằm phát huy hiệu quả hoạt động sáng tạo, phổ biến kiến thức, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong các hội thành viên, đơn vị trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Huế.
I. NGHIÊN CỨU NHỮNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trong giai đoạn phát triển mới của quê hương, đất nước, có thể thấy rõ sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, quản lý của Nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của các hội quần chúng trong tổ chức, hoạt động, góp phần xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Từ hệ thống lãnh đạo, định hướng của cấp uỷ Đảng, chỉnh quyền, đòi hỏi công tác quản lý, điều hành của cơ quan, đơn vị, tư duy quản lý và cách thức hoạt động của các Hội quần chúng cần phải thay đổi, phù hợp với xu thế hiện nay. Hội không thể tiếp tục hoạt động theo tư duy hành chính hóa, hay tổ chức các hoạt động nặng tính phong trào, hội hè mà cần phải đi vào thực chất. Đặc biệt là hoạt động sáng tạo kỹ thuật, phổ biến kiến thức KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hoạt động của hội quần chúng phải lấy hội viên, Nhân dân và lợi ích quốc gia – dân tộc làm trung tâm; lấy hiệu quả đóng góp cho xã hội và mức độ hài lòng của hội viên và Nhân dân làm thước đo kết quả hoạt động.
Hoạt động sáng tạo kỹ thuật, phổ biến kiến thức KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay bám sát vào các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và cấp uỷ, chính quyền địa phương. Trên cơ sở phân tích các nội dung chủ yếu của các văn bản liên quan đến vấn đề này, xác định, vai trò của các Hội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và Hội quần chúng (sau đây gọi tắt là Hội) làm rõ hơn các nội dung chúng ta đang quan tâm.
1. Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Quyết định 604/QĐ-TTg ngày 02/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ là những định hướng mang tầm quốc gia
Quyết định 604/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 được xây dựng dựa trên căn cứ trực tiếp từ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Từ văn bản này, vị thế đột phá chiến lược của chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, cùng trách nhiệm chuyên biệt của các tổ chức Hội được phân tích sâu như sau:
Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là đột phá chiến lược quốc gia. Chiến lược xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, đồng thời là động lực chủ yếu để xác lập mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong kỷ nguyên mới, dữ liệu, nền tảng số và năng lực tính toán chính thức được coi là những nguồn lực chiến lược mới của quốc gia.
Nhiệm vụ trọng tâm là ưu tiên phát triển công nghệ số, các nền tảng số cốt lõi và các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm “Make in Viet Nam” gắn với các ngành công nghiệp chiến lược. Quá trình phát triển này bắt buộc phải lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, lấy thị trường, hiệu quả thương mại hóa và tác động phát triển làm thước đo chủ yếu.
Vai trò của Hội và các tổ chức Khoa học công nghệ được xác định rõ ràng. Với những định hướng pháp lý, cơ chế nhằm hiện thực hóa khát vọng đột phá, Quyết định 604/QĐ-TTg đã đặt ra những yêu cầu hành động rất cụ thể đối với từng cấu phần trong hệ sinh thái. Trong tổng thể đó, các tổ chức KHCN, tổ chức Hội đã được định hình rõ vai trò, nhiệm vụ.
Đối với các tổ chức KHCN, Viện nghiên cứu, trường đại học (sau đây gọi là Viện/Trường), yêu cầu cấp thiết là phải thực hiện sắp xếp, củng cố và nâng cao năng lực theo hướng tinh gọn, chuyên sâu, gắn liền với các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược. Các tổ chức này không được hoạt động khép kín mà sẽ được Nhà nước lựa chọn, hỗ trợ để đồng hành trực tiếp với doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm đẩy mạnh liên kết “viện – trường – doanh nghiệp”, tăng cường thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển các mô hình doanh nghiệp công nghệ chuyên sâu (spin-off, spin-out) và đầu tư cho R&D. Phối hợp các các bên liên quan để hình thành các quỹ, xây dựng cơ chế hợp tác giữa viện, trường, doanh nghiệp và nhà đầu tư để khai thác triệt để giá trị từ các kết quả nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn mang lại những giá trị.
Đối với các Hội quần chúng, căn cứ theo chức năng và nhiệm vụ, các tổ chức này phải chủ động, tích cực tham gia thực hiện Chiến lược quốc gia. Hội đóng vai trò chủ lực trong công tác tuyên truyền, giúp chuyển hóa các chủ trương phức tạp thành nhận thức chung của toàn xã hội, thực hiện nhiệm vụ phổ biến kiến thức để đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng vào đời sống, phục vụ nhân dân.
Thực hiện chức năng giám sát xã hội, đóng vai trò như một màng lọc độc lập để theo dõi, đánh giá hiệu quả triển khai các chính sách khoa học và đổi mới sáng tạo. Trực tiếp tham gia huy động các nguồn lực hợp pháp từ xã hội (khối tư nhân, cộng đồng, đối tác quốc tế) để bổ sung nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
2. Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/4/2026 của Thành ủy Huế là chính sách cụ thể hoá tại địa phương
Những nội dung trong văn bản này đã xác định mục tiêu: Phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh LLSX, đổi mới phương thức quản trị, phát triển kinh tế, xã hội của thành phố.
Nghị quyết số 05-NQ/TU cũng đã làm rõ vai trò của các tổ chức quần chúng và tổ chức khoa học công nghệ (viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức trung gian) trong công cuộc đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của địa phương, phân định rõ qua các nội dung sau:
Vai trò của UBMTTQ, tổ chức chính trị – xã hội, Hội được xác định cụ thể. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội có nhiệm vụ đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm tạo sự đột phá về tư duy và chuyển biến mạnh mẽ trong hành động đối với các chủ trương, chính sách về khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thông qua hệ thống tổ chức, các đơn vị này phải tăng cường công tác vận động, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân về chủ trương đột phá của thành phố.
Với vị thế và vai trò của mình, UBMTTQ Việt Nam thành phố được giao trọng trách tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội trong suốt quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Các tổ chức chính trị – xã hội, Tổ Công nghệ số cộng đồng, Hội giữ vai trò phát động phong trào Bình dân học vụ số, đồng thời có trách nhiệm triển khai hiệu quả các mô hình thực tiễn thông qua mạng lưới Đại sứ số, Chợ số, Nông thôn số, và Mỗi công dân – một danh tính số.
Các Viện/ Trường đóng vai trò trọng yếu trong việc cung cấp và chuyển giao công nghệ đến với người dân, xã hội. Trong định hướng chính sách, thành phố sẽ hỗ trợ xây dựng Đại học Huế trở thành trung tâm chuyển giao công nghệ mạnh của khu vực Đông Nam Á và gắn công tác đào tạo với nghiên cứu chuyển giao khoa học, công nghệ.
Các tổ chức trung gian như: chuyển giao công nghệ, trung tâm ươm tạo doanh nghiệp, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo có vai trò thúc đẩy nguồn cung, cầu của thị trường. Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng mối liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa các nhà khoa học với nhà quản lý, nhà đầu tư và nhà sản xuất trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng vào thị trường khoa học và công nghệ.
Các Viện/ Trường và tổ chức khoa học công nghệ trên địa bàn được khuyến khích và tạo điều kiện để hợp tác, liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước, tổ chức tiên tiến trên thế giới về phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu cần rà soát năng lực phòng thí nghiệm hiện có để nâng cấp đạt tiêu chuẩn Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Đồng thời, các tổ chức này là nòng cốt để hình thành các thiết chế mới, như việc thành lập Trung tâm Công nghệ sinh học quốc gia khu vực miền Trung trên cơ sở Viện Công nghệ sinh học (Đại học Huế) hay xây dựng Trường Kỹ thuật và Công nghệ trên cơ sở Khoa Kỹ thuật và Công nghệ – Đại học Huế.
3. Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 20/7/2026 của Bộ Chính trị nhằm phát huy đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm, nguồn lực của các hội quần chúng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước
Là văn bản đinh hướng mới nhất của Bộ Chính trị liên quan đến định hướng cơ chế, chính sách đối với vị trí, vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Hội. Chỉ thị 11-CT/TW đã phân định rõ tính chất xã hội của hội quần chúng nói chung với hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ để có cơ chế, chính sách phù hợp nhằm phát huy tốt nhất hiệu quả hoạt động hội.
Theo đó, Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ cần thể hiện rõ vai trò, chủ động thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị, các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn do Thủ tướng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động; đổi mới phương thức hoạt động, tích cực cung cấp dịch vụ, tư vấn, phản biện chính sách; xây dựng, nhân rộng mô hình hiệu quả, cách làm hay trong hoạt động hội.
Hội quần chúng tập trung làm tốt vai trò tập hợp, đoàn kết, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên và Nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. quần chúng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Đây là sự bảo đảm về mặt chính trị, yêu cầu Liên hiệp Hội và các Hội thành viên phải chủ động tham gia sâu vào việc cung cấp dịch vụ công, tư vấn, phản biện thay vì thụ động chờ ngân sách hay chỉ sinh hoạt nghề nghiệp đơn thuần.
Thước đo cao nhất hiện nay là hiệu quả đóng góp cho xã hội. Mọi hoạt động của hội quần chúng phải đặt hội viên, Nhân dân và lợi ích quốc gia – dân tộc vào vị trí trung tâm. Thước đo để đánh giá kết quả hoạt động không còn là số lượng phong trào, mà là hiệu quả đóng góp thực chất cho xã hội cùng với mức độ hài lòng của hội viên và Nhân dân. Yêu cầu bức thiết đặt ra là phải khắc phục triệt để tình trạng hành chính hoá công tác hội, chấm dứt việc tổ chức các phong trào mang tính hình thức, dàn trải.
Các Hội quần chúng phải nâng cao năng lực tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm, đồng thời bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động. Trách nhiệm của Hội là khơi thông, kết nối, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội hợp pháp để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường. Cơ chế tài chính sẽ thay đổi; Nhà nước thực hiện hỗ trợ kinh phí trên cơ sở nhiệm vụ cụ thể được giao, đánh giá qua sản phẩm đầu ra và hiệu quả hoạt động hội. Các Hội cần thích ứng với việc mở rộng cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng và đấu thầu cung cấp dịch vụ công đối với các nhiệm vụ phục vụ lợi ích cộng đồng.
Trong tập hợp trí thức, bảo vệ quyền lợi hội viên và mở rộng đối ngoại, Hội quần chúng tập trung làm tốt vai trò tập hợp, đoàn kết, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên cùng Nhân dân. Thông qua tổ chức hội, cần tập hợp và phát huy trí tuệ, kinh nghiệm, tinh thần cống hiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, văn nghệ sĩ và doanh nhân.
Các hội phải chủ động, tích cực mở rộng đối ngoại Nhân dân và hợp tác quốc tế, phát huy nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển đất nước, góp phần quảng bá hình ảnh và bảo vệ lợi ích quốc gia.
Các tổ chức Hội tiên phong trong chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị hiện đại, xây dựng, cập nhật và quản lý liên thông cơ sở dữ liệu về tổ chức hội và hội viên. Yêu cầu ứng dụng nền tảng số trong quản trị, điều hành, kết nối hội viên và cung cấp dịch vụ. Trách nhiệm của Hội là phải nâng cao năng lực số, tính chuyên nghiệp, chuyên sâu trong hoạt động, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ có kỹ năng quản trị hiện đại và có cơ chế thu hút nhân lực trẻ, chuyên gia tham gia công tác Hội.
II. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LIÊN HIỆP HỘI CHỨNG MINH SỰ ĐÚNG ĐẮN CỦA CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH
Từ những chủ trương của Trung ương và địa phương, phân tích thực tiễn hoạt động của Liên hiệp Hội trong năm 2026, có thể thấy rõ việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Liên hiệp Hội.
1. Hoạt động Sáng tạo kỹ thuật đã có những thay đổi mang tính chiến lược
Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ 19, năm 2026 đã tạo được dấu ấn với 297 đề tài tham gia (nhiều nhất từ trước đến nay). Lĩnh vực liên quan đến chuyển đổi số có 100/297 đề tài (tỷ lệ 33,7%). Năm 2026, đồng hành cùng chính chuyền địa phương hai cấp, BTC Cuộc thi đã được thành lập gồm cấp thành phố và 40 BTC địa phương cấp phường, xã. Đã có 39/40 BTC cấp địa phương gửi đề tài về tham gia Cuộc thi cấp thành phố.
Hội đồng chấm thi của 06 lĩnh vực đã làm việc hết sức công tâm, minh bạch để đạt được kết quả: Đề nghị Ban Tổ chức trao 88 giải gồm 06 giải Nhất, 07 giải Nhì, 13 giải Ba, 29 giải Khuyến khích và 33 giải Tiềm năng sáng tạo. Để tôn vinh các tác giả, Ban tổ chức đã chủ động vận động nguồn lực xã hội hóa để trao thêm 33 giải Tiềm năng sáng tạo.
Triển lãm và chấm thi Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng thành phố Huế lần thứ 19, năm 2026
Hội thi Sáng tạo kỹ thuật lần thứ 16, năm 2026 có 109 đề tài tham gia, các đơn vị trường học thuộc khối giáo dục cấp thành phố: 33 đề tài chiếm 30,4%; Đại học Huế và các đơn vị thành viên: 31 đề tài chiếm 28,4%; Khối các doanh nghiệp: 18 đề tài chiếm 16,5%; Bệnh viện TW Huế: 16 đề tài chiếm 14,7%; Các đơn vị khối ban, ngành cấp thành phố: 06 đề tài chiếm 5,5%; Các tổ chức và cá nhân khác: 05 đề tài chiếm 4,5% (khối cơ sở sản xuất 2 đề tài; Hội thành viên 1 đề tài, cá nhân tự do 1 đề tài).
Đề tài liển quan đến chuyển đổi số là 39/109 đề tài (chiếm tỷ lệ 35,77%). Tổng cộng có 52 đề tài được đề nghị trao giải.
Vấn đề đặt ra là: Tại sao tỷ lệ sáng tạo từ khu vực sản xuất, Hội thành viên, các tổ chức KHCN trực trực thuộc lại thấp? Phải chăng, Liên hiệp Hội chúng ta chưa khơi dậy được tiềm năng từ đơn vị thuộc và trực thuộc?
2. Công tác phổ biến kiến thức KHCN bám sát nhu cầu thực tiễn của người dân và địa phương
Liên hiệp Hội đã thống nhất chủ trương phải khảo sát, nắm bắt thực tế trước khi triển khai công tác phổ biến kiến thức. Đã tổ chức điều tra, khảo sát trực tiếp nhu cầu của 300 người dân ở vùng xa và 200 người dân xã Đan Điền là một tư duy mới nhằm xác định đúng nhu cầu của công tác phổ biến kiến thức.
Tổ chức Hội nghị phổ biến kiến thức với chủ đề “Nâng cao nhận thức về du lịch di sản gắn với số hóa và phổ biến cơ chế chính sách phát triển du lịch cộng đồng” tại phường Phong Dinh nhằm kịp thời cung cấp thông tin chính thống về các chủ trương, nghị quyết, chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư của nhà nước và thành phố đối với du lịch cộng đồng, giúp người dân nắm vững quyền lợi và tiếp cận đúng hướng. Bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ người dân có tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch hiểu rõ giá trị của di sản địa phương và tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong thời kỳ mới, từng bước định hướng người dân làm du lịch theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, thúc đẩy kinh tế xanh, góp phần xây dựng đô thị du lịch Huế văn minh, giàu bản sắc.
Xây dựng kịch bản và triển khai quay 03 video phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật trên nền tảng Youtube. Duy trì xuất bản Bản tin Khoa học và Kỹ thuật (02 tháng/số), đến nay đã xuất bản 03 số Bản tin chất lượng với thông tin các hoạt động khoa học, các kết quả nghiên cứu, kiến thức khoa học và công nghệ, tuyên truyền các hoạt động của Liên hiệp Hội nhằm thúc đẩy tinh thần thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; Bản tin Khoa học và Kỹ thuật còn được đăng tải để đọc online tại Trang thông tin điện tử của Liên hiệp Hội. Hoạt động của Ban Biên tập Bản tin đã tiếp tục khẳng định thương hiệu mạnh trong công tác phát triển, đưa tri thức khoa học, công nghệ đến với người dân.
Đổi mới chất lượng Trang thông tin điện tử của Liên hiệp Hội, duy trì lượng tin, bài trên website với phiên bản tiếng Việt và tiếng Anh tại địa chỉ: http://www.husta.vn trung bình quân hàng tháng có 8.000 lượt truy cập. Thống kê trong 9 tháng đầu năm đã có gần 150 tin, bài được cập nhật.
Công tác quản lý văn bản hành chính đã hoà nhịp với việc sử dụng phần mềm dùng chung là Trang điều hành tác nghiệp SSO của UBND thành phố trong quản lý văn bản số.
III. ĐỊNH HƯỚNG HÀNH ĐỘNG TRONG THỜI GIAN ĐẾN
Qua phân tích cơ chế, chính sách và đánh giá kết quả hoạt động thực tiễn đã cho thấy tính đúng đắn của công tác chỉ đạo, địnhu hướng của Đảng, Nhà nước và năng lực tiếp thu, thực thi của Liên hiệp Hội, các Hội thành viên trong hoạt động sáng tạo, phổ biến kiến thức, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Trong thời gian đến, Thường trực Liên hiệp Hội khuyến nghị các Hội thành viên, đơn vị trực thuộc hướng đến thực hiện những nội dung sau:
Thứ nhất, thương mại hóa hoạt động Sáng tạo kỹ thuật: Các hội chuyên ngành nghiên cứu phương thức hoạt động gắn với sản phẩm có thể thương mại; hỗ trợ, hướng dẫn người lao động viết sáng kiến. Quan tâm đưa kết quả của các đề tài đạt giải Hội thi, kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn, tạo ra giá trị kinh tế thật.
Thứ hai, nâng tầm công tác Phổ biến kiến thức: Xem công tác “khảo sát nhu cầu” là hoạt động bắt buộc trước khi xây dựng hoạt động PBKT. Tăng cường các video clip ngắn gọn, đồ họa dễ hiểu để phổ biến kiến thức KHCN rộng rãi cho người dân với sự tham gia của các nhà khoa học Hội thành viên, các tổ chức KHCN trực thuộc. Các lớp PBKT bám sát nhu cầu thực tiễn của người dân, gắn với các vấn đề xã hội, đơn vị, địa phương đang quan tâm.
Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia KHCN: các hội thành viên phối hợp số hóa toàn bộ hồ sơ hội viên, đặc biệt là lực lượng các nhà khoa học được tôn vinh qua các năm. Khi thành phố cần tham vấn, có thể triệu tập đúng đội ngũ chuyên gia giỏi nhất. Đồng thời, toàn hệ thống từng bước chuyển sang mô hình “Hội không giấy”, biểu quyết và quản lý công việc trên môi trường số.
Nghiên cứu chuyên sâu các văn bản định hướng để chuyển hoá từ chính sách, nhận thức về kiến thức hành chính thành những kế hoạch hành động cụ thể. Làm tốt công tác này, hệ thống tổ chức Liên hiệp Hội đã góp phần trí tuệ, chúng tay, góp sức để khẳng định sức mạnh của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số đóng góp xứng đáng vào mục tiêu đưa Huế trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vươn tầm quốc gia, khu vực; kiến tạo một môi trường để trí tuệ của các nhà khoa học, của người dân Huế được chuyển hóa thành động lực phát triển, góp phần xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh./.






