Huế: khi nước là di sản, cũng là thách thức sinh tồn

Tác giả: HUSTA reviewer

Nhân Ngày Nước Thế giới 22/3, ngày được Liên Hợp Quốc duy trì hằng năm từ 1993 đến nay để nhấn mạnh tầm quan trọng của nước ngọt, nói về Huế cũng là nói về một nghịch lý đẹp mà nhức nhối: đây là một trong những đô thị giàu có nhất về nước ở Việt Nam, nhưng cũng là một trong những đô thị dễ tổn thương nhất trước nước. Nước ở Huế không chỉ là phong cảnh, không chỉ là thơ ca, không chỉ là “đặc sản” của ký ức du lịch. Nước là nền móng vật chất của cảnh quan, của sinh kế, của di sản, của khí hậu, của cấu trúc cư trú, và ngày càng rõ hơn, của cả an toàn đô thị.

Nếu nhìn Huế trong nghĩa hành chính hôm nay, đó là thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01/1/2025. Nhưng nếu nhìn Huế trong chiều sâu lịch sử, đó vẫn là xứ Thừa Thiên, đất kinh kỳ, một địa vực được hình thành không phải bên cạnh nước mà ở trong một chỉnh thể nước. Bởi vậy, khi nói Huế “không thiếu nước nhưng thiếu một trật tự quản lý nước tương xứng với độ phức tạp của chính mình”, ta không nói một khẩu hiệu quy hoạch. Ta đang chỉ vào cốt lõi sinh tồn của một đô thị vốn được nước tạo hình từ đầu.

Nước không phải phông nền của Huế, mà là cấu trúc của Huế

Dư địa chí và các nguồn chính thức của Huế mô tả hệ thống thủy văn nơi đây là một cấu trúc “hết sức phức tạp và độc đáo”, trong đó các con sông đan nối vào nhau thành một mạng lưới chằng chịt: Ô Lâu, Tam Giang, Hương, Lợi Nông, Đại Giang, Hà Tạ, Cống Quan, Truồi, Nong… Chính tính đan nối này làm cho Huế không thể được hiểu như một đô thị độc lập, mà phải được đọc như một vùng liên hoàn núi – sông – đồng bằng – đầm phá – biển. Trên nền ấy là một khí hậu nóng ẩm rất đặc thù: không khí chứa nhiều hơi nước, độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 83–87%, đưa Huế vào nhóm địa bàn ẩm nhất cả nước.

Điều đặc biệt là nước ở Huế không chỉ tồn tại dưới dạng sông ngòi tự nhiên. Nó được “kiến trúc hóa” thành hào thành, kênh đào, hồ, ao, tuyến phòng thủ, trục phong thủy, cảnh quan nghi lễ. UNESCO mô tả Quần thể di tích Huế như một kinh đô được đặt trong một không gian tự nhiên đặc biệt, nơi sông Hương uốn qua Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm Thành và nội đô, tạo nên một bối cảnh tự nhiên hiếm có; hồ sơ bản đồ di sản còn cho thấy ngay trong lõi thành đã có Royal Canal và Lake of the Serene Heart như những bộ phận cấu thành của cảnh quan lịch sử. Nói cách khác, ở Huế, nước không đứng ngoài văn hóa; nước là một phần của hình thái quyền lực, thẩm mỹ và trật tự không gian.

Chính vì vậy, bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào về Huế hôm nay đều phải đọc lại “ký ức thủy văn” của vùng đất này. Chuỗi ảnh Landsat do NASA/USGS duy trì từ năm 1972 cho phép theo dõi dài hạn sự biến đổi bề mặt đất, đường bờ, sông nước và mở rộng đô thị; Sentinel-2 cung cấp 13 dải phổ hữu ích cho nhận diện nước, thảm thực vật và bề mặt phủ; dữ liệu địa hình SRTM cho phép nhận diện vùng trũng và cấu trúc thoát nước. Khi chồng các lớp dữ liệu hiện đại ấy lên bản đồ di sản và các địa đồ lịch sử, Huế hiện ra không phải như một “điểm dân cư ven sông”, mà như một cơ thể thủy văn nhiều tầng, trong đó mọi can thiệp đô thị đều có thể gây phản ứng dây chuyền.

An ninh nguồn nước ở Huế mang một nghĩa khác

Theo định nghĩa của UN-Water, an ninh nguồn nước không chỉ là khả năng bảo đảm lượng nước và chất lượng nước chấp nhận được cho sinh kế, đời sống và phát triển kinh tế – xã hội; nó còn bao gồm năng lực bảo vệ cộng đồng trước các thảm họa liên quan đến nước, kiểm soát ô nhiễm và bảo tồn hệ sinh thái. Cục Quản lý tài nguyên nước của Việt Nam cũng dùng cách hiểu gần như vậy khi nhấn mạnh đến tiếp cận bền vững, phòng ngừa thảm họa và bảo tồn hệ sinh thái. Đặt vào Huế, khái niệm này cần được hiểu rộng hơn nữa: an ninh nguồn nước ở đây không chỉ là có đủ nước sạch, mà là giữ cho di sản, cư dân, sinh kế và hệ sinh thái cùng tồn tại an toàn trong một chế độ nước vốn luôn động.

Điều này cũng rất phù hợp với dịch chuyển tư duy quản trị nước ở Việt Nam hiện nay. Cục Quản lý tài nguyên nước từng xem Luật Tài nguyên nước 2023 là một bước tiến lớn trong thay đổi tư duy và phương thức quản trị. Nhưng ở Huế, thay đổi tư duy ấy còn mang ý nghĩa đặc biệt hơn: phải rời khỏi cách nghĩ coi nước chỉ là đầu vào cho cấp nước hoặc là thứ phải “tống khứ” ra khỏi đô thị càng nhanh càng tốt. Nước ở Huế vừa là tài nguyên, vừa là rủi ro, vừa là môi trường sống, vừa là chất liệu tạo bản sắc. Một quan niệm an ninh nguồn nước có chiều sâu vì thế phải đồng thời bao hàm an toàn dân cư, an toàn hạ tầng, an toàn di sản và an toàn sinh thái.

Sự giàu có của một hệ sinh thái nước hiếm có

Ít nơi nào ở Việt Nam có một hệ đầm phá ven bờ vừa rộng lớn, vừa gắn bó trực tiếp với đời sống đô thị như Tam Giang – Cầu Hai. Nhiều nguồn chính thức và quốc tế mô tả đây là hệ đầm phá nước lợ lớn nhất hoặc thuộc nhóm lớn nhất Đông Nam Á, trải dài khoảng 68 km và có diện tích mặt nước khoảng 21.600–23.000 ha. Quy mô ấy có ý nghĩa vượt xa một con số địa lý: nó cho thấy Huế không chỉ có “một con sông”, mà có cả một vùng nước chuyển tiếp khổng lồ nối biển với đồng bằng, với hàng loạt chức năng sinh thái, kinh tế và khí hậu.

Sự giàu có ấy trước hết là giàu có về đa dạng sinh học. Khu bảo tồn thiên nhiên Tam Giang – Cầu Hai được giới thiệu là hệ đầm phá điển hình của vùng nhiệt đới gió mùa, có giá trị đa dạng sinh học rất cao, với hàng trăm loài thực vật phù du, rong biển, thực vật thủy sinh, trong đó có các loài cỏ biển và thực vật ngập nước quan trọng. Các nghiên cứu học thuật còn cho thấy đây là nơi cư trú quan trọng của ít nhất 42 loài thủy sinh ven bờ và ngoài khơi. Đầm phá này, vì vậy, không phải khoảng trống giữa đất và biển; nó là một hạ tầng sinh thái sống, nơi nước lợ, nước ngọt, phù sa, thủy triều và mạng lưới sinh vật gặp nhau.

Sự giàu có ấy cũng là giàu có về xã hội. Nghiên cứu về sinh kế và đồng quản lý ở Tam Giang cho thấy hơn 300.000 người sống dựa trực tiếp hoặc gián tiếp vào các nguồn lợi gắn với đầm phá. Tài liệu FAO về Tam Giang – Cầu Hai cũng mô tả khoảng 100.000 người phụ thuộc trực tiếp vào hệ này bằng khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản, thêm khoảng 200.000 người phụ thuộc gián tiếp. Không có nhiều hệ sinh thái ở Việt Nam vừa mang giá trị sinh học lớn vừa mang mật độ phụ thuộc sinh kế dày như vậy. Bởi thế, mỗi biến động của đầm phá không chỉ là một thay đổi môi trường; đó là một dịch chuyển của đời sống cộng đồng.

Ở tầng sâu hơn, Tam Giang – Cầu Hai còn là “bộ nhớ nước” của toàn vùng Huế. Nó là nơi tiếp nhận, làm chậm, pha trộn, phân tán và điều hòa những dòng chảy đi xuống từ đồng bằng và đổ ra biển. Khi đầm phá khỏe mạnh, nó hoạt động như một vùng đệm sinh thái; khi đầm phá bị xé nhỏ, bị bít dòng, bị ô nhiễm hoặc bị đẩy đến quá tải, toàn bộ hạ du của Huế trở nên dễ tổn thương hơn. Nói cách khác, muốn hiểu an ninh nguồn nước của đô thị Huế, không thể chỉ nhìn nhà máy nước hay hệ cống; phải nhìn cả Tam Giang – Cầu Hai như một phần của hạ tầng sống.

Sự mong manh của một vùng nước quá giàu

Nhưng sự giàu có về nước và sinh thái không đồng nghĩa với bền vững. Trái lại, trong trường hợp Huế, chính độ giàu có và liên thông ấy lại làm cho hệ thống trở nên mong manh hơn trước các cú sốc. Những nghiên cứu về thảm thực vật thủy sinh ở Tam Giang – Cầu Hai cho thấy diện tích cỏ biển đã suy giảm rất mạnh trong giai đoạn 1996–2010: từ khoảng 2.200 ha năm 1996 xuống còn khoảng 1.200 ha năm 2003 và khoảng 1.000 ha năm 2010. Sự suy giảm này là tín hiệu quan trọng, bởi cỏ biển không chỉ là chỉ báo đa dạng sinh học mà còn là một cấu phần của sức khỏe sinh thái ven bờ.

Áp lực không chỉ đến từ biến đổi khí hậu mà còn đến từ con người. Tài liệu FAO về Tam Giang – Cầu Hai ghi nhận việc chặt phá sinh cảnh ngập nước để mở ao nuôi, thực hành nuôi trồng quá mức gây ô nhiễm do thức ăn thừa, chất thải hữu cơ và nước thải chưa xử lý; nhiều ao còn được xây dựng trái phép ở những vị trí cản trở trao đổi thủy triều cần thiết cho sự hòa trộn của nước trong đầm phá. Các kết quả viễn thám gần đây của FloodAdaptVN cũng cho thấy nuôi trồng thủy sản trong đầm phá diễn ra với cường độ rất cao. Khi mặt nước bị chia cắt bởi những hình thức khai thác quá dày, hệ thống đầm phá không chỉ nghèo đi về sinh thái mà còn yếu đi về chức năng điều tiết.

Sự mong manh ấy còn được phóng đại bởi các biến động ven biển. Nghiên cứu về tác động của nước biển dâng ở Thừa Thiên Huế chỉ ra hàng loạt nguy cơ: ngập, xói lở, mất đất ngập nước và xâm nhập mặn. Trong khi đó, phân tích đường bờ của FloodAdaptVN dựa trên chuỗi Landsat 1984–2021 cho thấy 26% bờ biển Huế có xu hướng xói lở, tốc độ cực đại có nơi tới -15 m/năm; một số điểm nóng xói lở nằm gần cửa đầm phá, với mức trung bình -3 đến -4 m/năm trên những đoạn bờ dài hàng ki-lô-mét. Như vậy, hệ sinh thái nước Huế không chỉ chịu áp lực từ thượng nguồn đổ xuống mà còn từ biển đánh vào.

Ngay cả cấu trúc định cư của Huế cũng làm rủi ro tăng lên. FloodAdaptVN mô tả vùng cư trú hẹp và thấp giữa núi trong đất liền và bờ biển khiến thời gian phản ứng với mưa lớn rất ngắn; đồng thời, xu hướng đô thị hóa nhanh, mở rộng vào các vùng dễ ngập và bề mặt bị bịt kín ngày càng nhiều làm giảm khả năng thấm và trữ nước. Khi đặt thông tin đó cạnh thực tế độ ẩm cao, mưa tập trung mạnh và mạng sông – phá – kênh rạch dày đặc, ta sẽ thấy một điều: Huế là đô thị mà chỉ cần mất đi vài mắt xích sinh thái nhỏ, toàn bộ độ đàn hồi của hệ thống có thể suy giảm nhanh chóng.

Những trận lũ không còn là ngoại lệ

Lịch sử cận đại của Huế đã nhiều lần cho thấy nước có thể đảo ngược toàn bộ trạng thái bình thường của đô thị nhanh đến mức nào. Với riêng di sản Huế, UNESCO từng ghi nhận trận mưa lũ tháng 10–12/1999 là trận lũ nghiêm trọng nhất được ghi nhận kể từ năm 1886. Đây không chỉ là một mốc khí tượng. Nó là bằng chứng rằng toàn bộ hệ đô thị – di sản – sông nước ở Huế từ lâu đã tồn tại trên một nền rủi ro sâu, nơi mọi công trình vật chất và mọi lớp ký ức văn hóa đều có thể đồng thời bị tổn thương bởi một biến cố nước.

Đến cuối năm 2025, bài học ấy lặp lại với quy mô khiến cả bộ máy quản lý phải thừa nhận tính bất thường của sự kiện. Cổng thông tin chính thức của thành phố Huế đã công bố tình huống khẩn cấp thiên tai để khắc phục hậu quả của “mưa lũ đặc biệt lớn” từ ngày 25/10 đến 3/11/2025, cùng các đợt mưa lũ ngày 16–17/11/2025; một thông báo khác của thành phố còn gọi đây là “đợt lũ lớn, lịch sử” khi nói về sự cố đê và sạt lở bờ sông. Những cụm từ này rất quan trọng, bởi chúng cho thấy chính quyền địa phương không còn nhìn biến cố như những đợt mưa thông thường vượt tải cục bộ, mà như các sự kiện cực đoan có tính bước ngoặt.

Các nguồn quốc tế sau đó xác nhận mức độ dị thường của đợt lũ này. AP trích dẫn nguồn tin cơ quan khí tượng Việt Nam cho biết lượng mưa ở Huế đạt 1.085 mm trong 24 giờ vào cuối tháng 10/2025, mức cao nhất từng được ghi nhận tại Việt Nam; nước sông Hương dâng cao và nhiều khu vực di sản ngập sâu. Đến ngày 24/11/2025, UNESCO phê duyệt khoản hỗ trợ khẩn cấp 66.000 USD để phục hồi Quần thể di tích Huế sau các trận lũ lịch sử tháng 10 và 11/2025. Khi một đô thị di sản phải nhận hỗ trợ khẩn cấp quốc tế vì lũ, đó là dấu hiệu cho thấy vấn đề đã vượt khỏi phạm vi “quản lý thoát nước đô thị” theo nghĩa hẹp.

Quan trọng hơn, các báo cáo rủi ro gần đây cho Huế cho thấy đây không phải là chuyện của vài trận mưa xấu số. Báo cáo “Flood risks in Hue” công bố năm 2025 cho biết gần một nửa diện tích Huế, khoảng 46%, có nguy cơ chịu các trận lũ ngoại lệ như sự kiện năm 2020; riêng các khu phát triển đô thị mới và vùng hạ lưu, gần 90% diện tích có nguy cơ ngập trên 2 m ở nhiều nơi. Báo cáo này không chỉ mô tả hiểm họa; nó khuyến nghị các chiến lược quản lý rủi ro lũ tổng hợp và bền vững ở cấp lưu vực, gắn với quy hoạch phát triển không gian dựa trên rủi ro. Nói ngắn gọn: Huế không thể tiếp tục quy hoạch như thể lũ chỉ là phần “ngoại sinh” của đô thị.

Báo cáo ấy còn cho thấy cơ chế ngập ở Huế là cơ chế cộng hưởng. Mùa mưa ở Huế thường trùng với thời kỳ bão và áp thấp nhiệt đới, tạo mưa lớn, dâng nước đầm phá và hiệu ứng dội nước từ phá vào sông, kênh, cửa thoát; mưa lớn làm tăng dòng chảy mặt; lũ sông còn có thể bị gia cường bởi xả nước hồ chứa hoặc giới hạn trong vận hành hồ; trong khi đó, năng lực tiêu thoát bị bó hẹp bởi bề mặt bị bịt kín, hệ thống thoát nước hữu hạn và suy giảm hệ sinh thái. Nói cách khác, ngập Huế không thuần túy là “mưa to”; đó là bài toán tương tác giữa khí hậu, địa hình, đầm phá, hạ tầng, quy hoạch và vận hành lưu vực.

Huế không thiếu nước, Huế thiếu một trật tự quản lý nước

Đó là lý do cần nói thật rõ: bài toán số một của Huế không phải “thêm công nghệ” theo nghĩa cài thêm cảm biến, dựng thêm dashboard hay mở thêm ứng dụng đô thị thông minh. Công nghệ là cần thiết, nhưng Huế không hề ở trạng thái trắng dữ liệu. Thành phố đã có cổng bản đồ quy hoạch số với các lớp dữ liệu về quy hoạch, di sản, tài nguyên – môi trường và các công cụ phân tích không gian; FloodAdaptVN đang phát triển FRAME như một hệ hỗ trợ ra quyết định dựa trên WebGIS; dự án CARe Hue do Quỹ Khí hậu Xanh hỗ trợ cũng đặt mục tiêu tăng cường cảnh báo sớm, quy hoạch chống chịu khí hậu và đầu tư vào thích ứng dựa vào hệ sinh thái. Vấn đề không phải Huế không có dữ liệu; vấn đề là dữ liệu ấy có được chuyển hóa thành kỷ luật không gian và quyết định công hay không.

Ngay trong các đánh giá thể chế của FloodAdaptVN, điểm nghẽn đã được chỉ ra rất thẳng: tích hợp thích ứng dựa vào hệ sinh thái vào quản lý thiên tai còn hạn chế; phát triển kinh tế – xã hội thường được ưu tiên hơn quy hoạch không gian bền vững, thích ứng khí hậu và quản lý rủi ro lũ; tích hợp thích ứng vào quy hoạch còn yếu; cần quản trị liên ngành, dựa trên rủi ro, có kho dữ liệu dùng chung và có hợp tác liên vùng tốt hơn. Những nhận định này đáng chú ý vì chúng chuyển trọng tâm thảo luận từ câu hỏi “xây gì thêm?” sang câu hỏi “sắp xếp lại thứ tự ưu tiên như thế nào?”.

Trong nghĩa đó, Huế không thiếu nước; Huế thiếu một trật tự quản lý nước tương xứng với độ phức tạp của chính mình. Trật tự ấy phải trả lời được ít nhất bốn câu hỏi: nước sẽ đi đâu khi mưa cực đoan vượt chuẩn thiết kế; không gian nào bắt buộc phải được dành cho nước; công trình nào có thể xây và không thể xây trong lưu vực tự nhiên; và tiêu chuẩn xây dựng nào phải thay đổi để đô thị không tự chuyển rủi ro từ nơi này sang nơi khác. Một thành phố càng giàu sông, hồ, đầm, phá thì càng không thể quản lý bằng logic lô đất riêng lẻ. Nó buộc phải được quản lý như một hệ thống nước liên thông.

Từ “chống ngập” sang quản trị nước

Các báo cáo mới về Huế cho thấy một gợi ý rất rõ: không có một biện pháp đơn lẻ nào đủ sức giải quyết bài toán lũ và an ninh nguồn nước. FloodAdaptVN xác định 34 nhóm giải pháp và nhấn mạnh rằng chỉ một tổ hợp biện pháp bổ sung cho nhau mới có thể xử lý sự phức tạp của rủi ro lũ ở Huế, kết hợp các lựa chọn công trình, công nghệ, pháp lý, giáo dục, tài chính, chính sách và đặc biệt là các giải pháp hệ sinh thái. Đây là điểm cực kỳ quan trọng. Nó bác bỏ ảo tưởng rằng chỉ cần một hệ cống lớn hơn, một trạm bơm mạnh hơn, hay một vài dự án kè cứng là đủ.

Nếu dịch ngôn ngữ kỹ thuật ấy sang ngôn ngữ dễ hiểu hơn, ta có thể nói Huế cần rời khỏi mô hình “cố chấp chống ngập” để bước sang mô hình “quản trị nước linh hoạt”. Ở mô hình cũ, nước bị xem như kẻ thù cần bị đẩy ra ngoài thành phố càng nhanh càng tốt. Ở mô hình mới, mục tiêu không phải xóa nước khỏi đô thị, mà là quản lý rủi ro nước trên toàn lưu vực, giảm thiệt hại, tăng sức chịu đựng và giữ cho hệ sinh thái còn chức năng. Đó là tư duy của water governance: điều phối dòng chảy, đất đai, hạ tầng, di sản, sinh kế và quy chuẩn xây dựng trong một chỉnh thể chung.

Đặt vào không gian cụ thể của Huế, mô hình mới ấy gần với logic “hạ tầng xanh – lam” hay “đô thị bọt biển” hơn là đô thị bê tông hóa kín mít. Danh mục giải pháp mà FloodAdaptVN đề xuất cho Huế bao gồm phục hồi và bảo tồn các kênh nước đô thị để cải thiện năng lực thoát nước và giảm tích tụ nước; lát phủ thấm nước hoặc tháo bỏ những bề mặt không cần thiết phải bịt kín; tăng cường cây xanh đô thị; bảo tồn vườn nhà truyền thống; mở rộng không gian xanh công cộng; và đặc biệt là phục hồi, bảo tồn các hồ và ao đô thị để trữ nước lũ và điều hòa dòng chảy. Đây đều là những biện pháp rất “Huế”, bởi chúng không áp đặt một hình mẫu xa lạ mà khôi phục những gì vốn thuộc về cấu trúc lịch sử của đô thị này.

Ở quy mô rộng hơn, các biện pháp quan trọng khác bao gồm tái kết nối đồng bằng ngập lũ để tạm thời giữ nước thừa, bảo tồn và phục hồi dải thực vật ven sông để giảm xói mòn và lọc dòng chảy, phục hồi bờ sông, và phục hồi rừng ngập mặn ở vùng ven phá – ven biển. Báo cáo của FloodAdaptVN nhấn mạnh rằng rừng ngập mặn có thể hoạt động như hàng rào tự nhiên chống dâng, chống xói lở, làm chậm sóng, giảm ngập vào đất liền và thậm chí hỗ trợ chống xâm nhập mặn. Nói cách khác, muốn chống chịu nước ở Huế, phải bắt đầu từ việc trả lại chức năng cho những hệ sinh thái đã từng làm công việc ấy trước khi bê tông lên tiếng.

Riêng với nội đô, giá trị của hồ ao, kênh mương và mặt nước không còn có thể bị xem là giá trị cảnh quan phụ. FloodAdaptVN cho thấy việc phục hồi các thủy vực và dòng chảy đô thị có thể giảm nguy cơ và mức phơi lộ với nhiều loại lũ bằng cách tăng dung tích trữ nước, làm chậm dòng chảy mặt, cải thiện thấm, tăng tính kết nối của hệ nước và giảm sức ép lên hệ thống thoát nước. Điều này cực kỳ gần với thực tế Huế: mỗi ao hồ bị lấp, mỗi tuyến kênh bị bóp hẹp, mỗi bề mặt thấm bị phủ kín không chỉ làm mất “không gian đẹp”, mà làm mất một đơn vị đàn hồi của đô thị.

Nhưng quản trị nước không dừng ở sinh thái. Nó phải đi vào luật lệ và tiêu chuẩn. Chính FloodAdaptVN khi phân loại các nhóm giải pháp cũng nhấn mạnh đến luật và quy định như các công cụ then chốt: luật phân vùng đất đai, tiêu chuẩn xây dựng, easement định hướng phát triển, quy định về nước và giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Nghĩa là Huế cần cả giải pháp công trình lẫn kỷ luật quy hoạch: không để nâng nền cục bộ làm dồn ngập sang nơi thấp hơn; không cho xây dựng lấn vào hành lang thoát lũ; không tiếp tục đánh đổi hồ điều hòa, ao thấp, đầm phá, bờ sông lấy quỹ đất ngắn hạn; và phải từng bước chuẩn hóa mô hình nhà ở thích ứng lũ cho những vùng không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro.

Tóm lại, quản trị nước ở Huế không phải là đẩy nước ra khỏi thành phố càng nhanh càng tốt. Đó là tạo ra không gian để nước “nghỉ ngơi” khi cực đoan xuất hiện: ở hồ điều hòa nội đô, ở ao hồ phục hồi, ở bãi trũng còn được bảo vệ, ở đầm phá chưa bị băm nát, ở dải ven sông chưa bị bê tông hóa cứng, ở thảm thực vật ven bờ còn khả năng giữ đất và giảm tốc dòng chảy. Một đô thị sống được với nước không phải đô thị xua đuổi nước, mà là đô thị biết dành chỗ cho nước theo trật tự, theo luật, theo sinh thái và theo lịch sử.

Bảo tồn ký ức thủy văn để Huế còn là Huế

Trong câu chuyện phát triển của Huế, điều đáng lo nhất không phải là một trận lũ riêng lẻ, mà là nguy cơ thành phố đánh mất ký ức thủy văn của chính mình. Khi một đô thị không còn nhớ vùng nào từng là nơi chứa nước, tuyến nào từng là đường thoát lũ, hồ nào từng là mắt xích điều hòa, bờ nào cần được giữ mềm thay vì kè cứng hoàn toàn, thì mỗi quyết định xây dựng tưởng như hợp lý ở cấp lô đất sẽ tích tụ thành một thất bại ở cấp lưu vực. Huế càng là đô thị di sản thì càng không thể phát triển bằng cách xóa những lớp nước đã từng làm nên hình thái của nó.

Vì thế, bảo vệ Huế trong thế kỷ XXI không chỉ là trùng tu di tích hay mở rộng hạ tầng thoát nước. Đó là một công việc khó hơn nhiều: tái lập trật tự ưu tiên cho nước trong quy hoạch và quản trị đô thị. Phải coi Tam Giang – Cầu Hai là hạ tầng sống chứ không phải khoảng đệm để khai thác tùy tiện; phải coi sông Hương và các phụ lưu là hành lang sinh thái – thoát lũ chứ không chỉ là trục cảnh quan; phải coi ao hồ, kênh mương, bề mặt thấm và vùng trũng là tài sản phòng vệ; và phải coi dữ liệu, bản đồ, cảnh báo sớm, mô hình hóa chỉ là công cụ phục vụ một triết lý sâu hơn: phát triển thuận thiên.

Huế rồi sẽ còn mưa lớn. Đầm phá rồi sẽ còn chịu áp lực từ biển dâng, xói lở, xâm nhập mặn và khai thác quá mức. Sông Hương rồi sẽ còn đối mặt với những mùa nước lên bất thường. Nhưng tương lai của Huế không chỉ phụ thuộc vào cường độ của thiên tai; nó phụ thuộc vào việc thành phố có đủ can đảm để thay đổi tư duy hay không. Một Huế thực sự thông minh không phải là Huế phủ đầy cảm biến mà vẫn tiếp tục lấp ao hồ, bóp nghẹt hành lang nước và xây dựng bất chấp lưu vực. Một Huế thực sự thông minh là Huế biết rằng nước vừa là ký ức, vừa là hạ tầng, vừa là giới hạn phát triển. Và một khi hiểu điều đó, Huế sẽ không còn đi tìm cách chiến thắng nước, mà học cách tổ chức đời sống đô thị sao cho nước, người, di sản và hệ sinh thái cùng tồn tại.

Huế giàu có vì có nước. Huế mong manh cũng vì có quá nhiều nước kết nối với nhau. Bởi thế, giữ Huế không phải là chống lại nước, mà là trả lại cho nước vị trí đúng của nó trong quy hoạch, trong luật lệ, trong kiến trúc, trong sinh kế và trong trí nhớ đô thị. Chỉ khi ấy, câu nói “Huế không thiếu nước nhưng thiếu một trật tự quản lý nước tương xứng với độ phức tạp của chính mình” mới không còn là lời cảnh báo, mà trở thành điểm khởi đầu cho một chương phát triển khác của đô thị này.

Facebook
Twitter
LinkedIn
Email