Giải pháp phát triển rừng bền vững: Thâm canh rừng kinh tế theo hướng gỗ lớn

Sản xuất, kinh doanh rừng trồng cung cấp gỗ lớn đang là xu hướng trên thế giới, mang lại lợi ích kép về kinh tế và môi trường. Đầu ra của sản phẩm gỗ xẻ tương đối thuận lợi do nhu cầu gỗ xẻ ngày càng tăng, giá gỗ xẻ trên thị trường hiện nay cao hơn giá gỗ nguyên liệu và bán dăm khoảng 1,5 – 2 lần. Nếu rừng trồng được thâm canh bền vững, được cấp chứng chỉ FSC thì khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ xuất khẩu càng lớn và giá gỗ xẻ được tăng cao hơn nhiều. Nhằm giúp người trồng rừng kỹ thuật thâm canh rừng keo theo hướng gỗ xẻ, chúng tôi xin giới thiệu Hướng dẫn kỹ thuật này được áp dụng cho trồng rừng Keo lai cung cấp gỗ lớn, chu kỳ 10- 12 năm.

 

1. Điều kiện

– Nhiệt độ bình quân 22 – 270C. Lượng mưa bình quân từ 1500 – 2500 mm/năm. Khu vực trồng ít có gió xoáy, bão, độ dốc dưới 20 độ.

– Loại đất: đất xám; đất feralit; đất phù sa; đất dốc tụ; thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng; độ dầy tầng đất > 50 cm; độ pH thích hợp từ 4,5 – 6,5.

– Thực bì: Cây bụi, đất rừng sau nương rẫy, đất rừng trồng sau khai thác.

2. Giống

2.1. Nguồn giống

– Nguồn giống để nhân giống là cây mô lấy từ giống gốc của các dòng Keo lai đã được công nhận, phù hợp với vùng trồng, đối với khu vực miền Trung và tỉnh Thừa Thiên Huế nên sử dụng BV10, BV16, BV32….

– Cây giống phải có giấy chứng nhận nguồn gốc giống của lô cây con theo quy định từ cơ sở được phép sản xuất kinh doanh.

2.2. Tiêu chuẩn cây giống

– Cấy giống được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô hoặc giâm hom.

– Chiều cao thân cây từ 25 – 35 cm, đường kính cổ rễ từ 0,25 – 0,3 cm. Tuổi xuất vườn cây phải đạt từ 3 – 4 tháng tuổi. Cây con không bị sâu bệnh, không cụt ngọn, không nhiều than và đã được huấn luyện đạt yêu cầu đưa ra trồng.

3. Trồng rừng

3.1. Phương thức trồng, mật độ trồng, thời vụ trồng

– Phương thức trồng: Thuần loài

– Trồng tập trung hơn 5 ha phải trồng ít nhất 3 dòng vô tính. Trồng hỗn giao giữa các dòng để giảm thiểu sâu bệnh.

– Trồng dưới 5 ha và trồng phân tán có thể dùng 1 – 2 dòng vô tính.

– Mật độ trồng: 1300 cây/ha (cự ly 3m x 2,5m).

– Thời vụ trồng: Vào đầu mùa mưa đến giữa mùa mưa; thời tiết lúc trồng có mưa hoặc trời râm mát.

3.2. Xử lý thực bì

– Đất có thảm cỏ không cần xử lý thực bì. Nơi có cây bụi, thảm tươi phát dọn thực bì toàn diện, tuyệt đối không được đốt thực bì.

– Đất rừng sau khai khác: Dọn gốc, cành nhánh và thực bì nếu có.

3.3. Làm đất, đào hố, bón phân.

– Làm đất bằng thủ công hoặc cơ giới, cuốc hố hoặc cày trước khi trồng từ 10 đến 15 ngày.

– Đất bằng phẳng: Dọn thực bì và cày toàn diện, cày rạch theo hàng trồng, sâu khoảng 50 cm, khoảng cách rạch cày 3,0 m, đào hố theo đường rạch, kích thước hố 30x30x30cm.

– Nơi đất dốc làm đất cục bộ: Đào hố theo hình nanh sấu, kích thước hố: 40x40x40cm hoặc theo đường đồng mức.

– Bón lót 0,2 kg phân NPK 10-10-5/hố hoặc từ 0,2 – 0,5 kg phân hữu cơ vi sinh/hố. Nơi đất chua độ, bón thêm 50g vôi bột/hố. Sau khi trộn đều phân với đất rồi lấp hố. Bón phân và lấp hố trước khi trồng 7 – 10 ngày.

3.4. Trồng cây

– Dùng cuốc nhỏ hoặc bay đào một hố rộng và sâu hơn chiều dài của bầu 1-2 cm ở vị trí giữa hố đã lấp. Xé bỏ vỏ bầu và đặt cây con thẳng đứng vào giữa hố, tránh làm vỡ bầu.

– Lấp đất tơi xốp 2/3 hố, lèn chặt xung quanh bầu và vun thêm đất vào gốc cây tạo thành hình mâm xôi, lèn chặt, cao hơn mặt đất khoảng 2- 3 cm.

4. Chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng

4.1. Trồng rừng, chăm sóc rừng

Năm thứ nhất:

– Lần 1: Sau khi trồng 1 tháng, kiểm tra tỷ lệ cây sống, trồng dặm cây bị chết, đảm bảo tỷ lệ cấy sống trên 90%. Nếu phát hiện bị dế, mối cắn phải có biện pháp phòng chống kịp thời.

– Lần 2: Chăm sóc vào cuối mùa mưa.

Phát dọn thực bì, làm cỏ, cuốc xới vun gốc, đường kính 0,8 m, kết hợp với bón thúc 0,1kg phân NPK/hố.

– Cách bón phân: Đào rãnh xung quanh gốc sâu 4-5 cm, rộng 10 cm, cách gốc 40 cm (nơi đất bằng) hoặc nửa vòng tròn phía trên dốc (nơi đất dốc), rải phân, lấp đất, rồi vun vào gốc cây.

Năm thứ 2, thứ 3:

– Lần 1: Chăm sóc vào đầu mùa mưa. Phát dọn thực bì, làm cỏ xung quanh gốc cây với đường kính 0,8 m kết hợp với bón thúc 0,2 kg NPK/cây.

– Lần 2: Vào cuối mùa mưu, phát dọn thực bì làm cỏ, xới vun gốc với đường kính 1,0 m kết hợp với phòng chống cháy rừng.

Lưu ý: Thường xuyên kiểm tra, không để thực bì phát triển lấn áp cây trồng và cạnh tranh dinh dưỡng.

4.2. Nuôi dưỡng rừng

a) Tỉa cảnh, tỉa thân: Từ năm thứ 2 trở đi, tỉa cành trước mùa sinh trưởng hàng năm để nâng cao chất lượng gỗ.

– Tỉa thân: Mục đích của tỉa thân là để tạo ra cây chỉ có một thân nhưng có đường kính lớn hơn, thay vì nhiều thân nhưng đường kính nhỏ hơn. Việc này sẽ giúp tăng trữ lượng gỗ và qua đó cho thu nhập cao hơn. Việc tỉa thân chỉ áp dụng trên các cây có nhiều thân. Tỉa những cây có nhiều thân, để lại một thân tốt nhất, cắt sát với thân để lại.

– Tỉa cành: Mục tiêu của tỉa cành là nâng cao chất lượng gỗ. Việc tỉa cành sớm sẽ giảm thiểu kích thước của lõi mắt và số mắt chết trong gỗ. Tỉa cành sát vào thân cây, đảm bảo không để lại cảnh kiểu móc áo nhằm làm cho vết cắt sớm liền sẹo. Tỉa cành vào những lần chăm sóc cuối mùa mưa. Tỉa toàn bộ cành lên độ cao tối đa 30% tổng chiều cao cây kể từ mặt đất.

b) Tỉa thưa: Số lần tỉa thưa từ 1 – 2 lần.

– Lần 1: Tuổi 4 – 5 năm, mật độ để lại từ 800 – 900 cây/ha.

– Lần 2: Tuổi 8 – 9 năm, mặt độ để lại 500 – 600 cây/ha.

– Chọn cây bài tỉa: Cây sinh trưởng kém, bị sâu bệnh hại, bị chèn ép, cụt ngọn, không có triển vọng cung cấp gỗ lớn.

– Phương pháp tỉa: Bài cây trước khi chặt, chặt cây sát gốc, hướng cây đổ không ảnh hưởng đến cây giữ lại, không chặt 2 cây liền nhau.

– Vệ sinh rừng sau tỉa thưa: Thu gom cành, ngọn, cắt nhỏ và dải theo băng giữa 2 hàng cây.

– Chăm sóc rừng 2 – 3 năm sau tỉa thưa gồm: Phát dây leo, cây bụi; xới đất xung quanh gốc trong khoảng cách gốc cây từ 1m đến 1,5m; bón cho mỗi gốc cây 0,2 kg phân NPK + 0,2 kg phân hữu cơ vi sinh/cây hoặc 0,4 kg phân NPK/cây.

4.3. Bảo vệ rừng

– Thường xuyên tuyên truyền, ngăn chặn người chặt phá cây trồng. cấm chăn thả gia súc khi rừng chưa đạt chiều cao 5 m.

– Thường xuyên kiểm tra phòng trừ sâu bệnh hại rừng và có biện pháp phòng chống cháy rừng.

5. Khai thác: Cây được khai thác trắng sau 10 đến 12 năm trồng, tùy theo nhu cầu thị trường gỗ xẻ.

– Khai thác vào mùa khô để thuận lợi trong chặt hạ và vận chuyển gỗ ra khỏi rừng.Cắt hạ cây; Cắt sát gốc để tận dụng tối đa sản phẩm. Chiều cao gốc chặt không quá 1/3 đường kính gốc cây.

– Vệ sinh rừng sau khai thác: Sau khi lấy toàn bộ các sản phẩm gỗ, cành to có thể sử dụng làm củi ra khỏi rừng, băm nhỏ các cành nhánh, lá và vỏ để lại, dải đều và lấp đất lên để nhanh mục và tránh bị cháy trong mùa khô, nhằm hoàn trả lại dinh dưỡng cho đất.

Với các kỹ thuật cơ bản trong thực hiện trồng rừng kinh doanh gỗ xẻ, nếu được thực hiện đảm bảo thì với chu kỳ kinh doanh từ 10 đến 12 năm bà con nông dân có thể thu hoạch sản phẩm gỗ xẻ đạt chất lượng cao với hiệu quả tăng từ 2 đến 3 lần.

Thành Quang

 

Kiểm tra lại