Tác giả: TS Hồ Đắc Thái Hoàng
Ngày 13/10/2026, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1976/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thay thế Quyết định số 1893/QĐ-TTg ngày 25/12/2019 và yêu cầu mọi địa phương ban hành kế hoạch thực hiện ngay trong năm 2026. Với Huế, văn bản này đặt ra một câu hỏi lớn hơn việc triển khai: thành phố có đủ nguồn lực để trở thành một trong sáu trung tâm của y học cổ truyền Việt Nam hay không.
1. Quyết định 1976/QĐ-TTg: từ chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện
Chiến lược khép lại một chuỗi văn bản mang tính hệ thống: Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị, Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026 và Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 09/7/2026. Điểm đổi mới nằm ở quan điểm: chuyển “từ tư duy dùng y học cổ truyền chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện”, phát triển đồng bộ hệ sinh thái từ nghiên cứu, đào tạo, dược liệu đến khám chữa bệnh, đưa công nghiệp dược liệu thành ngành kinh tế chiến lược.
Mục tiêu đến năm 2030 được lượng hóa theo hướng mọi tỉnh, thành phố có bệnh viện y học cổ truyền, 70% đạt tối thiểu 300 giường. Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền đạt 10% ở cấp chuyên sâu, 20% ở cấp cơ bản, 30% ở cấp ban đầu; chi trả bảo hiểm y tế tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2025; tự chủ 20% nhu cầu dược liệu. Chiến lược còn đặt chỉ tiêu số hóa 70% tri thức đã xác minh, chuẩn hóa 30 bài thuốc và hình thành 05 dòng dịch vụ y dược cổ truyền phục vụ du lịch. Đến năm 2035, mỗi vùng phải có ít nhất một bệnh viện chuyên sâu về y học cổ truyền.
Các nhóm nhiệm vụ trải rộng, với Luật Y học cổ truyền dự kiến trình Quốc hội cuối năm 2028, đến khoa học công nghệ, nhân lực, bảo tồn tri thức và thương hiệu. Phụ lục liệt kê 12 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhiệm vụ thứ 12 gọi đích danh Huế: lập đề án 06 trung tâm bảo tàng, bảo tồn, kế thừa và phát huy tri thức y học cổ truyền tại Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Tĩnh, Huế, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì, tự phê duyệt, hạn tháng 12/2030.
2. Mạng lưới di sản
Christaller (1933) định nghĩa độ trung tâm là Bedeutungsüberschuss, phần chức năng một nơi cung ứng vượt nhu cầu của chính nó. Các địa danh của Phụ lục hiện lên như một bản đồ di sản. Hải Phòng nay bao gồm đất Hải Dương, quê của Thiền sư Tuệ Tĩnh, người khởi xướng “Nam dược trị Nam nhân” từ thế kỷ XIV. Hưng Yên là quê của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724-1791); Hà Tĩnh là nơi ông hành nghề và soạn Hải Thượng y tông tâm lĩnh ở Hương Sơn. Đà Nẵng, sau hợp nhất với Quảng Nam, giữ vùng sâm Ngọc Linh. Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường lớn nhất.
Huế giữ mắt xích mà không nút nào khác có: thể chế hóa. Thái y viện lập năm 1804, cuối triều Minh Mạng có 43 quan chức; kỳ sát hạch năm 1837 có 18 người đạt loại thông thạo (Đỗ Bang, 2020). Đó là lần duy nhất y học cổ truyền Việt Nam vận hành như một hệ thống nhà nước, có tổ chức, đào tạo và chuẩn hóa bài thuốc. Thiền sư Tuệ Tĩnh trao nguồn dược liệu bản địa, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác trao y lý và y đức, còn Thái y viện chứng minh tri thức ấy có thể được tổ chức và truyền lại. Chiến lược 1976 đang đòi hỏi đúng năng lực đó.
Cũng cần nhìn thấy rõ hơn, Huế lại nằm giữa Hà Tĩnh và Đà Nẵng trên trục Bắc – Nam, trên Hành lang kinh tế Đông – Tây sang Lào và Thái Lan. Huế thiên về tri thức, đào tạo, trị liệu, áp dụng công nghệ sau thu hoạch để chế biến, bảo quản và thiết kế dòng dược phẩm đặc trưng.
3. Nguồn lực y học cổ truyền của Huế
Nguồn lực y học cổ truyền của Huế có thể bắt đầu từ hai bệnh viện tuyến cuối của cả vùng, Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế, cùng các Khoa Y học cổ truyền của Trường. Kế đến là Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Huế, đơn vị chuyên khoa của địa phương, cùng mạng lưới trung tâm y tế tuyến cơ sở. Ngoài khu vực công lập còn có phòng khám, nhà thuốc y học cổ truyền tư nhân, lớp tri thức văn hóa và tài nguyên dược liệu.
| Tầng | Cơ sở | Năng lực nổi bật | Thông tin cần bổ sung |
| Trung ương | Bệnh viện Trung ương Huế (hạng đặc biệt): Khoa Y học cổ truyền ở cơ sở 1 (từ 1977) và cơ sở 2 (từ 2016) | Nội trú, ngoại trú, điều trị phối hợp với các chuyên khoa hiện đại, cung ứng thuốc; chỉ đạo tuyến, hợp tác quốc tế | Số giường, lượt khám y học cổ truyền |
| Trung ương – đại học | Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế (hạng I) và Khoa Y học cổ truyền của Trường | Phòng khám Y học cổ truyền (2020) với 15 cán bộ, gồm 1 PGS, 1 TS, 9 ThS; đào tạo đại học, thạc sĩ | Chưa có khoa nội trú y học cổ truyền |
| Chuyên khoa địa phương | Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Huế (hạng II, 1977) | 142 giường thực kê, 7 khoa; tự bào chế thuốc; 38 người dạy thực hành, nhận học viên 9 trình độ | Xếp cấp cơ bản; dưới ngưỡng 300 giường |
| Tuyến cơ sở | 9 trung tâm y tế khu vực, Bệnh viện Đa khoa Bình Điền | Hầu hết có khoa y học cổ truyền; Phú Vang có khoa riêng (11 nhân viên) | Phần lớn gộp với phục hồi chức năng |
| Ngoài công lập | Phòng khám, phòng chẩn trị, nhà thuốc y học cổ truyền | Kinh nghiệm gia truyền và chuyển giao từ công lập; sản phẩm cao đơn hoàn tán, rượu bổ | Thống kê đầy đủ |
| Tri thức và tài nguyên | Thái y viện, Hội Đông y, cộng đồng Tà Ôi, Pa Cô, Cơ Tu; Bạch Mã, A Lưới | Hơn 1.000 trang Hán Nôm đã dịch; 1.874 loài thực vật có mạch ở Bạch Mã | Dược liệu chủ yếu bán thô |
Bảng 1. Các tầng nguồn lực y học cổ truyền của Huế. Nguồn: website các bệnh viện; Bản công bố số 335/BCB-BVYHCT; Quyết định số 1210/QĐ-SYT; các quyết định quy định cơ cấu tổ chức trung tâm y tế, bệnh viện của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và UBND thành phố Huế.
Xét tính hệ thống tổ chức ta thấy Huế đã có hệ thống y học cổ truyền nằm ngay trong bệnh viện tuyến cuối, cạnh các chuyên khoa hiện đại. Khoa Y học cổ truyền của Bệnh viện Trung ương Huế đi từ Tổ châm cứu năm 1977, thành khoa Y học dân tộc năm 1978 do bác sĩ Hồ Tấn Phi phụ trách, đến khoa Y học cổ truyền năm 1982; website bệnh viện có cả bản tiếng Lào. Phòng khám của Bệnh viện Trường tập trung mật độ học vị cao nhất, nhưng bệnh viện chưa có khoa nội trú y học cổ truyền dù đề án chuẩn Đông Nam Á (Quyết định số 1096/QĐ-TTg ngày 19/6/2026) đặt quy mô trên 800 giường. Nâng phòng khám thành khoa lâm sàng là bước có chi phí thấp mà tác động lớn nhất.
Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố có năng lực cần được trân trọng là tự bào chế thuốc, với 12 máy sắc thuốc, máy làm viên hoàn và dây chuyền sơ chế dược liệu. Chương trình thực hành cao học tại đây có học phần “Nam dược thần hiệu”: dòng di sản Tuệ Tĩnh đang được truyền dạy ngay tại Huế. Thách thức có thể thấy là cấp chuyên môn, khi Quyết định số 1210/QĐ-SYT ngày 18/12/2024 xếp bệnh viện vào cấp cơ bản, còn dự án Viện Thái y (350 tỷ đồng) vẫn vướng mặt bằng.
Khu vực ngoài công lập giữ phần tri thức gia truyền sống động nhất. Nhà thuốc y học cổ truyền Ngô Quý Thích, lập từ thập niên 1980, là một trong những hiệu thuốc Bắc lâu đời và nổi tiếng nhất cố đô, được biết đến trên toàn quốc với rượu bổ gia truyền và các loại cao đơn hoàn tán; nhà thuốc có hai cơ sở tại 157 Trần Hưng Đạo và 215 Bà Triệu, do Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Ngô Quý Thích quản lý. Nhà thuốc Bắc, phòng chẩn trị y học cổ truyền Lê Hữu Chí (67 Trần Hưng Đạo) được người dân tin tưởng nhờ xem mạch, phối thuốc chu đáo. Tiệm thuốc Bắc Đồng Cát do lương y Lê Hữu Mạch, Chủ tịch Hội Đông y thành phố Huế, trực tiếp quản lý, chuyên điều chế thuốc trị bệnh mạn tính và xương khớp. Cùng với đó là Phòng khám đa khoa Nguyễn Quang Hợp (34 năm quân y, 18 năm Chủ nhiệm khoa Đông y Bệnh viện Quân y 268), Phòng khám Đông y Quách Trọng Tâm (Kiệt 86 Lê Ngô Cát) và Phòng khám Đông y Thái An Đường (2/342 Lê Duẩn) chuyên phục hồi sau tai biến.
Nền tảng của tất cả là tri thức và tài nguyên. Thái y viện lập năm 1804, cuối triều Minh Mạng có 43 quan chức (Đỗ Bang, 2020); lương y Phan Tấn Tô cùng Hội Đông y đã dịch hơn 1.000 trang Hán Nôm về bài thuốc triều Nguyễn. Tri thức cây thuốc của người Tà Ôi, Pa Cô, Cơ Tu ở A Lưới chưa được điều tra hệ thống. A Lưới quy hoạch 360ha dược liệu nhưng mới trồng gần 10ha cà gai leo, bán khô khoảng 30.000 đồng/kg.
Nhìn theo tổng thể cách vận hành tổ chức, Huế có đủ các tầng mà một địa phương đóng vai trò trung tâm cần. Điều còn thiếu là sự nối kết: tầng trên chưa có giường bệnh y học cổ truyền ở bệnh viện trường, tầng chuyên khoa mới ở cấp cơ bản, tầng cơ sở còn gộp với phục hồi chức năng, còn khu vực tư nhân chưa được tổ chức mang tính hệ thống network mang tính thống kê và đặc biệt là chưa gắn với chuỗi dược liệu của vùng núi và năng lực bảo quản, chế biến và bào chế dược liệu.
4. Mạng lưới nội lực, ngoại lực, tiềm lực
Hình 1 xếp các nguồn lực trên theo ba trạng thái quanh hạt nhân Huế. Nội lực là những gì đang vận hành; ngoại lực là dòng chảy chính sách, tài chính và thị trường từ bên ngoài; tiềm lực là những gì đã có nhưng chưa được kích hoạt.
Hình 1. Huế trở thành trung tâm khi nội lực và ngoại lực kích hoạt được tiềm lực
Nội lực đủ để Huế giữ vị trí một nút di sản, chưa đủ cho một nút đa chức năng. Ngoại lực năm 2026 mạnh chưa từng có nhưng có hạn: kế hoạch địa phương trong năm 2026, đề án 06 trung tâm bảo tồn nguồn gen dược liệu (nhiệm vụ 4) hạn tháng 12/2027, nhiệm vụ 12 hạn tháng 12/2030.
Vì vậy cần dùng ngoại lực, thông qua nội lực, để kích hoạt tiềm lực, theo ba đường đã có căn cứ pháp lý. Thứ nhất, đưa tri thức Thái y viện vào đề án nhiệm vụ 12 và chuẩn hóa bài thuốc cung đình tại Trường Đại học Y – Dược. Thứ hai, thiết kế và xây dựng đề án khả thi đặt trung tâm nguồn gen tại Bạch Mã, chuyển A Lưới sang hệ thống cơ sở chế biến tại chỗ và chia sẻ lợi ích với cộng đồng. Thứ ba, đưa y học cổ truyền chuyên sâu vào đề án bệnh viện chuẩn Đông Nam Á.
5. Kết luận
Quyết định 1976/QĐ-TTg không phong cho Huế danh hiệu trung tâm; văn bản chỉ trao một hạt nhân thể chế và một khung thời gian. Vị thế trung tâm phải được tạo ra từ nguồn lực sẵn có, và Huế có đủ những thứ khó sao chép nhất: di sản thể chế của Thái y viện, nền đào tạo y khoa, kho tài nguyên dược liệu Trường Sơn và lớp tri thức cộng đồng nhiều thế hệ.
Nhiệm vụ trước mắt là ban hành kế hoạch thực hiện Quyết định 1976/QĐ-TTg trong năm 2026 với chỉ tiêu riêng cho Huế. Đề án nhiệm vụ 12 cần vượt chức năng bảo tàng để thành một trung tâm đa chức năng; Bệnh viện Y học cổ truyền cần đạt 300 giường, gắn với tháo gỡ dự án Viện Thái y. Làm được vậy, Huế không chỉ có tên trong danh sách mà thực sự là một trong sáu trung tâm phát triển y học cổ truyền Việt Nam, nút nối dòng di sản Thiền sư Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông với chăm sóc sức khỏe hôm nay.
Nguồn ảnh: Tranh vẽ cảnh bắt mạch trong triều đình nhà Nguyễn. Ảnh chụp lại tư liệu của NGUT-ThS Phan Tấn Tô






