MÔ HÌNH NHẬN DIỆN SỚM NHU CẦU HỖ TRỢ TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC ĐƯỜNG ĐỐI VỚI HÀNH VI TỰ GÂY TỔN THƯƠNG KHÔNG TỰ SÁT TRONG BỐI CẢNH NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HUẾ

Trạng thái đề tài:

Lĩnh vực: Giáo dục và đào tạo

Hoạt động: Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật

Năm: 2026

Ngày nộp đề tài: 28/07/2026

Thông tin nhóm tác giả

Tên tác giả / nhóm tác giả: Nguyễn Hữu Minh An, Hồ Thị Minh Sang, Lê Triều Sơn, Lê Trần Tuấn Anh, Nguyễn Thị Kiều Khanh, Nguyễn Văn Tuy

Đơn vị công tác của chủ nhiệm: Trường THPT Hai Bà Trưng-Huế

Địa chỉ cơ quan của chủ nhiệm: Số 14 Lê Lợi, Phường Thuận Hóa, Thành phố Huế

Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp

Tính mới về khoa học: Theo tổng quan tài liệu trong nước của nhóm tác giả tính đến năm 2026, đây là một trong những mô hình đầu tiên tại Việt Nam kiểm định chuỗi trung gian nối tiếp giữa nguy cơ sử dụng mạng xã hội có vấn đề và hành vi NSSI ở học sinh THPT. Ba sản phẩm khoa học đã hình thành từ đề tài: 01 bài báo đã đăng tại Tạp chí Nghiên cứu Y học – Đại học Y Hà Nội; 01 bài báo đã được chấp nhận đăng tại Tạp chí Khoa học Trường Đại học Tân Tạo; 01 bản thảo tiếng Anh đang trong quá trình phản biện độc lập tại tạp chí quốc tế thuộc danh mục Web of Science/Scopus. Tính mới về quy trình: Bộ công cụ được tinh gọn thành 5 thang đo chính thức (BSMAS, PSQI, RSES, ESSA, FASM), không bổ sung bộ câu hỏi lâm sàng ngoài phạm vi y đức đã được phê duyệt, không sử dụng công cụ sàng lọc nguy cơ tự sát cấp tính và không phân loại khủng hoảng cấp tính. Quy trình chuyển trọng tâm từ “sàng lọc lâm sàng” sang “nhận diện sớm nhu cầu hỗ trợ tâm lý – giáo dục học đường”, có phân tầng hỗ trợ theo mức ưu tiên và cơ chế chuyển gửi tự nguyện. Tính sáng tạo về phương pháp: Áp dụng cơ chế mã ngẫu nhiên thay vì ẩn danh tuyệt đối, theo quy trình 8 bước chuẩn hóa (trình bày tại Phần thứ hai). Học sinh giữ thẻ mã cá nhân và có thể chủ động dùng mã này để xin hỗ trợ tại phòng tham vấn học đường; nhà trường và nhóm nghiên cứu chỉ xử lý dữ liệu giả danh/tổng hợp, không nắm bảng đối chiếu mã – danh tính. Tính sáng tạo về mô hình hợp tác: Đề tài là kết quả của sự hợp tác ít gặp tại Việt Nam giữa học sinh THPT và giảng viên Đại học Y – Dược, trong đó học sinh THPT đảm nhận vai trò chủ động (chủ nhiệm), được hướng dẫn chuyên môn và đã có công bố khoa học. Mô hình này có thể nhân rộng thành phương thức đào tạo nghiên cứu khoa học cho học sinh THPT tại Thành phố Huế.

Khả năng ứng dụng

Mô hình đã được triển khai thực tế và chứng minh khả năng vận hành trong điều kiện của Thành phố Huế: – Đã áp dụng tại 4 trường THPT của Thành phố Huế trong giai đoạn tháng 3 – tháng 5/2026, khảo sát và nhận diện sớm tổng cộng 1.523 học sinh (tỷ lệ phản hồi 94,2%). Đây là quy mô lớn, đủ minh chứng tính khả thi vận hành thực tế. – Nhận diện sớm các nhóm học sinh có nhu cầu hỗ trợ: 33,5% học sinh có hành vi NSSI (≈ 510 trường hợp), 25,9% có nguy cơ sử dụng mạng xã hội có vấn đề theo BSMAS (≈ 395 trường hợp), 47,1% có rối loạn giấc ngủ (≈ 717 trường hợp). Một tỷ lệ đáng kể đã được kết nối với chuyên viên tham vấn thông qua cơ chế học sinh chủ động đăng ký, trong đó 20 học sinh chủ động đăng ký phỏng vấn sâu và 5 học sinh được khuyến nghị hỗ trợ chuyên sâu. – Khả năng nhân rộng cao: Toàn bộ công cụ và quy trình được chuẩn hóa, không yêu cầu trang thiết bị đặc biệt; có thể triển khai trên thiết bị điện tử thông thường. Mỗi trường chỉ cần tập huấn ngắn (4 giờ) cho điều tra viên và phối hợp với phòng tham vấn tâm lý học đường. – Tính bền vững: Mô hình có thể được vận hành định kỳ (1–2 lần/năm) như một phần của hoạt động sức khỏe học đường, tích hợp với hệ thống tư vấn học đường theo Thông tư 18/2025/TT-BGDĐT. Trong giai đoạn 2026–2027, nhóm dự kiến đề xuất Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Huế xem xét nhân rộng mô hình tại các trường THPT khác trên địa bàn.

Hiệu quả kinh tế xã hội

1. Hiệu quả xã hội (chính) – Phát hiện sớm hàng trăm trường hợp học sinh có nguy cơ về sức khỏe tâm thần mà trước đây không được nhận diện qua các kênh thông thường. – Cung cấp đường dẫn hỗ trợ cụ thể (phòng tham vấn học đường, Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111, các cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa tâm thần), giúp học sinh tiếp cận hỗ trợ kịp thời khi có nhu cầu. – Nâng cao nhận thức của ban giám hiệu, giáo viên và phụ huynh về vấn đề NSSI và sử dụng mạng xã hội lành mạnh. – Đóng góp dữ liệu khoa học làm cơ sở cho các chính sách sức khỏe tâm thần học đường tại Thành phố Huế và Việt Nam. 2. Hiệu quả kinh tế – Chi phí nhận diện sớm tại trường học thấp: Ước tính chi phí khảo sát/vận hành trung bình khoảng 15.000–25.000 đồng/học sinh (tài liệu, thẻ mã, tài nguyên hỗ trợ); chi phí tham vấn ban đầu chủ yếu dựa vào nhân lực tư vấn học đường sẵn có. – So với chi phí điều trị muộn: Khi các khó khăn sức khỏe tâm thần kéo dài đến mức cần can thiệp chuyên khoa, chi phí y tế, đi lại, thời gian chăm sóc và gián đoạn học tập có thể cao hơn nhiều so với hỗ trợ sớm tại trường. Lập luận kinh tế được trình bày thận trọng: mô hình có tiềm năng tiết kiệm chi phí, cần được lượng hóa bằng nghiên cứu chi phí – hiệu quả khi nhân rộng. – Hiệu quả hệ thống: Góp phần giảm tải cho hệ thống tư vấn học đường và y tế chuyên khoa bằng cách phát hiện nhu cầu hỗ trợ ở giai đoạn sớm. 3. Hiệu quả khoa học và giáo dục – 01 bài báo khoa học đã đăng tại Tạp chí Nghiên cứu Y học Đại học Y Hà Nội (Việt Nam). DOI https://doi.org/10.52852/tcncyh.v203i6.5578 – 01 bài báo khoa học đã được chấp nhận đăng tại Tạp chí Khoa học Trường Đại học Tân Tạo (về đặc điểm, hình thái và động cơ NSSI theo mô hình FASM). – 01 bản thảo tiếng Anh đang trong quá trình phản biện độc lập tại tạp chí quốc tế thuộc danh mục Web of Science/Scopus. – Mô hình đào tạo nghiên cứu khoa học cho học sinh THPT có thể nhân rộng – tạo nguồn nhân lực khoa học sớm cho Thành phố Huế 4. Tính bền vững và khả năng nhân rộng Đề tài có khả năng nhân rộng cao tại các tỉnh, thành phố khác trên cả nước. Chi phí triển khai ban đầu cho một trường cần được cập nhật theo đơn giá địa phương và nguồn lực sẵn có; khi mô hình được tích hợp vào hoạt động tư vấn học đường thường quy, chi phí biên cho mỗi học sinh được kỳ vọng thấp. Kết luận: Đề tài đáp ứng đầy đủ bốn tiêu chí của Hội thi – tính cấp thiết, tính mới và sáng tạo, khả năng ứng dụng đã được chứng minh, và hiệu quả kinh tế – xã hội rõ rệt. Đặc biệt, mô hình hợp tác THPT và Đại học Y trong đề tài là điển hình cho hướng phát triển nghiên cứu khoa học của học sinh phổ thông tại Thành phố Huế và Việt Nam.

Facebook
Twitter
LinkedIn
Email