Tác giả: Nguyễn Ngọc Cát Anh, Trần Đình Bình
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
I. MỞ ĐẦU
Bạch cầu hạt bao gồm bạch cầu ưa acid, bạch cầu ưa kiềm và bạch cầu trung tính. Trong đó, bạch cầu trung tính là thành phần quan trọng của hệ miễn dịch bẩm sinh – giữ vai trò bảo vệ cơ thể trước các tác nhân gây bệnh, đặc biệt là vi khuẩn và nấm. Tình trạng giảm bạch cầu trung tính đặc ứng do thuốc (Idiosyncratic drug–induced neutropenia-IDIN) là hậu quả của việc gia tăng phá hủy bạch cầu trung tính, thường gây ra bởi các phản ứng đặc ứng có hại với những loại thuốc không phải hóa trị. Khi tình trạng giảm bạch cầu trung tính diễn ra sâu và kéo dài, khả năng chống nhiễm khuẩn của cơ thể bị suy giảm, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn huyết và tử vong [3].
Kháng sinh có vai trò thiết yếu trong điều trị nhiễm khuẩn, song việc sử dụng thuốc cũng có thể dẫn đến nhiều tác dụng không mong muốn, bao gồm các rối loạn huyết học. Trong đó, giảm bạch cầu hạt do kháng sinh là biến cố ít gặp nhưng có thể gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt trong những liệu trình kéo dài. Giảm bạch cầu hạt thường được ghi nhận sau khoảng 2–4 tuần điều trị, với thời điểm khởi phát thay đổi tùy theo loại kháng sinh và đặc điểm người bệnh [1,2]. Biến cố này diễn tiến âm thầm và có thể phát hiện qua xét nghiệm công thức máu và các biểu hiện của người bệnh trên lâm sàng như sốt, đau họng, loét miệng và các dấu hiệu nhiễm khuẩn [1,2,3].
Giảm bạch cầu hạt liên quan đến kháng sinh tuy hiếm gặp nhưng gây ra hậu quả vô cùng nặng nề, cần được giám sát chủ động khi người bệnh được điều trị kéo dài. Việc nhận diện tác dụng giảm bạch cầu hạt do kháng sinh có thể gặp khó khăn do các biểu hiện dễ bị nhầm lẫn với diễn tiến của bệnh nhiễm khuẩn hoặc tác động của thuốc dùng đồng thời.
Bài viết này tổng hợp những vấn đề về đặc ứng của kháng sinh gây giảm bạch cầu hạt bao gồm xác định những kháng sinh thường gây tác dụng này; dự phòng và nhận diện sớm xu hướng giảm giảm bạch cầu hạt bằng cách theo dõi công thức máu thường xuyên để ngừng kịp thời kháng sinh nghi ngờ hay thay đổi thuốc khi xuất hiện bất thường nhằm giảm tỉ lệ xảy ra biến cố gây giảm bạch cầu hạt, bảo đảm an toàn và duy trị hiệu quả điều trị cho gười bệnh.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Là các bài báo và tài liệu mới trong những năm gần đây về sử dụng kháng sinh và nguy cơ gây giảm bạch cầu hạt ở những tạp chí chuyên ngành trong nước và nước ngoài.
Các trang web có liên quan về nội dung trên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp và phân tích các loại kháng sinh có nguy cơ gây giảm bạch cầu hạt, các cơ chế gây giảm bạch cầu hạt do kháng sinh gây ra, các hướng xử trí và dự phòng…
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Giảm bạch cầu hạt liên quan đến kháng sinh
3.1.1. Phân loại mức độ giảm bạch cầu hạt
Giảm bạch cầu là giảm tổng số bạch cầu dưới giới hạn bình thường. Giảm bạch cầu hạt thường được xác định khi số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) dưới 1,5 × 10⁹/L, trong đó mức độ nặng được xác định khi ANC < 0,5 × 10⁹/L [3]. Công thức tính ANC như sau [4]:
ANC = Tổng số lượng bạch cầu x % (BCTT đa nhân + BCTT dạng dải)
Bảng 1. Phân loại mức độ giảm bạch cầu trung tính [5]
| Mức độ | ANC | Nguy cơ |
| Nhẹ | 1,0 – <1,5 × 10⁹/L | Nguy cơ nhiễm trùng thấp |
| Trung bình | 0,5 – < 1,0 × 10⁹/L | Nguy cơ nhiễm trùng trung bình |
| Nặng | < 0,5 × 10⁹/L | Giảm bạch cầu trung tính nghiêm trọng – Nguy cơ nhiễm trùng nặng cao, nhiễm khuẩn huyết |
3.1.2. Cơ chế gây giảm bạch cầu hạt liên quan đến kháng sinh
Do tính chất hiếm gặp, cơ chế sinh bệnh của giảm bạch cầu hạt do thuốc nói chung và kháng sinh nói riêng chưa hoàn toàn được xác định, không dự đoán được. Hai cơ chế thường được đề cập bao gồm: giảm sản xuất bạch cầu trung tính tại tủy xương và tăng phá hủy bạch cầu trung tính ngoại vi [3].
Trong đa số trường hợp, giảm bạch cầu hạt liên quan đến kháng sinh được cho là do cơ chế miễn dịch, trong đó thuốc hoặc chất chuyển hóa đóng vai trò hapten gắn với protein trên bạch cầu trung tính và kích hoạt tạo kháng thể đặc hiệu [3]. Hapten là các phân tử trọng lượng phân tử thấp không có khả năng tự tạo ra phản ứng miễn dịch, nhưng khi kết hợp với một phân tử vận chuyển lớn (thường là một protein) thì sẽ có khả năng tạo ra phản ứng miễn dịch. Thuốc khi đi vào cơ thể thường được chuyển hóa qua gan tạo thành các chất chuyển hóa tan trong nước, sau đó được thải trừqua nước tiểu tránh tích lũy và gây độc tế bào. Mặc dù đa phần lượng thuốc chuyển hóa qua gan, cũng có một lượng thuốc chuyển hóa qua các tế bào khác, bao gồm bạch cầu trung tính. Các enzym trong bạch cầu trung tính chuyển hóa thuốc thành các chất chuyển hóa tái hoạt động (hapten) liên kết chặt chẽ với glycoprotein màng tế bào bạch cầu trung tính tạo thành các phức hợp hapten – protein. Phức hợp này sẽ kích thích sản xuất kháng thể đặc hiệu với thuốc, sau đó kháng thể đặc hiệu sẽ gắn với phức hợp hapten –protein màng tế bào gây tiêu diệt hoặc phá hủy tế bào bạch cầu trung tính. Ngoài ra, để kích thích sản xuất kháng thể đặc hiệu cần có các tế bào trình diện kháng nguyên (APC) trình diện các protein cho tế bào T hỗ trợ (tế bào Thelp) (tín hiệu 1). Nhưng APC cần được hoạt hóa bởi tín hiệu nguy hiểm (tín hiệu 2), nếu không có tín hiệu 2 thì sẽ xảy ra sự dung nạp miễn dịch. Tín hiệu 2 là tín hiệu nguy hiểm được sản xuất ra bởi các tế bào bị tổn thương (tế bào bạch cầu trung tính bị stress hoặc các tế bào khác) và kích hoạt đồng thời APC cùng tế bào Thelp [3]. Do cần thời gian hình thành đáp ứng miễn dịch, biến cố này thường xuất hiện muộn khi kháng sinh được sử dụng kéo dài [1,3].
Một số kháng sinh, đặc biệt là beta-lactam và glycopeptid (như vancomycin), có thể tạo ra các chất chuyển hóa phản ứng, gây tổn thương trực tiếp tế bào tiền thân dòng bạch cầu hạt trong tủy xương hoặc kích hoạt quá trình chết tế bào theo chương trình [3].
3.2. Các loại kháng sinh liên quan đến giảm bạch cầu hạt
Theo thống kê của trên cơ sở dữ liệu báo cáo ADR của Tổ chức Y tế thế giới (Vigibase), giảm bạch cầu ái toan và ái kiềm là các tình trạng rất hiếm gặp/hiếm gặp (<0,01%) và chủ yếu được ghi nhận trên nhóm Beta-lactam. Tuy nhiên các tình trạng giảm bạch cầu ái kiềm và ái toan thường ít khi có ý nghĩa trên lâm sàng. Trong khi đó, bạch cầu trung tính chiếm tỉ lệ lớn nhất trong số các loại bạch cầu hạt, và giảm bạch cầu hạt trung tính thường dẫn tới biến cố nhiễm trùng nguy hiểm. Nhóm các kháng sinh liên quan đến giảm bạch cầu trung tính:
- Nhóm Penicillin & Beta-lactam: giảm bạch cầu trung tính, có thể kèm theo tăng ái toan. Các thuốc đáng lưu ý khi sử dụng kéo dài là Piperacillin/tazobactam, amoxicillin, oxacillin, và cloxacillin [6,7].
- Nhóm Cephalosporin: làm giảm bạch cầu trung tính, đôi khi giảm rất sâu. Các thuốc thường gặp như: Cefazolin, ceftriaxone, cefepime và ceftaroline; cần chú ý khi dùng điều trị kéo dài nhiều tuần [2,8].
- Vancomycin: Gây giảm bạch cầu trung tính và tăng ái toan trong phản ứng quá mẫn. Tác dụng phụ này liên quan rõ hơn đến thời gian sử dụng thay vì liều dùng hay nồng độ, trong đó nhiều ca xuất hiện sau hơn 20 ngày điều trị [3,9].
- Linezolid: Biểu hiện giảm bạch cầu hoặc giảm nhiều dòng tế bào do cơ chế ức chế tủy [3]. Cần đánh giá đồng thời chỉ số hemoglobin và tiểu cầu, đặc biệt khi điều trị trên 2 tuần.
- Trimethoprim/sulfamethoxazole: Có thể gây giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính hoặc mất bạch cầu hạt. Tình trạng này có thể liên quan đến rối loạn chuyển hóa folat hoặc phản ứng đặc ứng; do đó cần rà soát chức năng suy thận và các thuốc dùng kèm [3,10]. – Chloramphenicol: Biểu hiện giảm bạch cầu trong ức chế tủy và thiếu máu bất sản. Thuốc có kiểu ức chế tủy hồi phục cũng như kiểu tổn thương nghiêm trọng có thể xuất hiện muộn [3,11].
- Ngoài ra nhóm kháng sinh Meropenems, Macrolides và Sulfonamides cũng liên quan đến tình trạng này [3,4].
3.3. Nguyên tắc phòng ngừa và xử trí
3.3.1. Lưu ý khi sử dụng kháng sinh
Theo khuyến cáo của Hiệp hội các bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA), lựa chọn ưu tiên trong điều trị nhiễm khuẩn một số loại vi khuẩn thường gặp như:
- Trong điều trị nhiễm khuẩn do Pseudomonas aeruginosa, ưu tiên lựa chọn thuốc thuộc nhóm đầu, như cefepime hoặc piperacillin–tazobactam nếu vi khuẩn còn nhạy cảm với các beta-lactam không thuộc nhóm carbapenem, nhằm bảo tồn hiệu lực của carbapenem [12].
- Đối với điều trị nhiễm khuẩn do Staphylococcus aureus nhạy cảm Methicilin (MSSA), ưu tiên lựa chọn các beta-lactam chống tụ cầu như cefazolin hoặc nafcillin/oxacillin nếu bệnh nhân không có tiền sử dị ứng nặng với beta-lactam. Trong khi đó, lựa chọn các kháng sinh hàng đầu trong điều trị nhiễm khuẩn do Staphylococcus aureus kháng Methicilin (MRSA) là vancomycin hoặc daptomycin (hoặc linezolid trong viêm phổi) dựa trên vị trí nhiễm khuẩn [13].
- Trong điều trị nhiễm khuẩn xâm lấn hoặc ngoài đường tiết niệu do các chủng Enterobacterales sinh β-lactamase phổ mở rộng (ESBL-E), ưu tiên lựa chọn các thuốc thuộc nhóm carbapenem (như ertapenem, meropenem hoặc imipenem–cilastatin) làm phác đồ hàng đầu. Đối với nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng, ưu tiên các lựa chọn thay thế không thuộc nhóm carbapenem (như nitrofurantoin, trimethoprim– sulfamethoxazole hoặc fluoroquinolone nếu vi khuẩn nhạy cảm) nhằm bảo tồn hiệu lực của carbapenem [12].
Các chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, MSSA, MRSA, ESBL-E, … rất thường gặp trong nhiễm khuẩn tại bệnh viện và các kháng sinh ưu tiên được lựa chọn điều trị đều thuộc nhóm các kháng sinh nguy cơ gây giảm bạch cầu hạt. Vì vậy khi điều trị nhiễm khuẩn các loại vi khuẩn trên cần lên kế hoạch lưu ý và theo dõi sát các chỉ số xét nghiệm và biểu hiện lâm sàng, cũng như cân nhắc về độ dài điều trị kháng sinh.
3.3.2. Đánh giá và theo dõi trong điều trị
Cần khai thác tiền sử giảm bạch cầu do thuốc, các dấu hiệu nhiễm khuẩn nặng, nhiễm virus, bệnh tự miễn, thiếu vitamin B12 hoặc folat, bệnh tủy và thuốc dùng đồng thời (nhất là các loại thuốc khác cũng có tác dụng làm giảm bạch cầu hạt như thuốc kháng giáp
(Carbimazole, Methimazole, Propylthiouracil), thuốc chống sốt rét (Hydroxychloroquine; Amodiaquine; Quinine), Thuốc chống viêm (NSAID; Penicillamine; Leflunomide;
Methotrexate; Sulfasalazine), … ) để xác định đúng nguyên nhân gây ra giảm bạch cầu hạt.
Thời gian điều trị kéo dài là yếu tố quan trọng và nhất quán nhất. Giảm bạch cầu hạt thường xuất hiện sau khoảng 2–4 tuần (có thể sớm hơn), đặc biệt với vancomycin, Ceftriaxon và các beta-lactam điều trị nhiễm trùng sâu hoặc mạn tính. Trước một liệu trình điều trị kéo dài hoặc sử dụng thuốc có nguy cơ ảnh hưởng đến huyết học đáng kể, nên ghi nhận CBC kèm công thức bạch cầu, ANC, hemoglobin, tiểu cầu, chức năng thận và xét nghiệm gan phù hợp giúp phân biệt biến cố mới xuất hiện với tình trạng có từ trước [3,5]. Rà soát định kỳ kết quả xét nghiệm huyết học, đối chiếu với thời gian dùng thuốc và loại kháng sinh, giúp phát hiện sớm xu hướng giảm bạch cầu trung tính ngay cả khi chưa đạt ngưỡng chẩn đoán lâm sàng [1,2]. Ngoài ra, dược sĩ lâm sàng cần phối hợp chặt chẽ với bác sĩ điều trị để đánh giá các yếu tố nguy cơ đồng thời như suy thận, đa trị liệu và tiền sử phản ứng bất lợi do thuốc, từ đó khuyến nghị điều chỉnh phác đồ hoặc tăng cường việc theo dõi công thức máu khi cần thiết [1,3].
Khi có cơ sở nghi ngờ giảm trung tính do kháng sinh, biện pháp trọng tâm là ngừng sử dụng thuốc gây ra tình trạng này và duy trì điều trị nhiễm khuẩn bằng lựa chọn phù hợp. Theo dõi sát, cân nhắc lợi ích và tiếp tục thuốc trong trường hợp ANC giảm nhẹ, dấu hiệu lâm sàng người bệnh ổn định và nguyên nhân chưa rõ cần được đánh giá sớm. Sau khi ngừng thuốc, hầu hết các trường hợp giảm bạch cầu trung tính sẽ tự khỏi theo thời gian, và chỉ cần điều trị triệu chứng như dùng kháng sinh để điều trị và phòng ngừa nhiễm trùng, cùng với các biện pháp vệ sinh tốt [1,14].
Thời gian trung bình để số lượng bạch cầu trung tính phục hồi hoàn toàn là 9 ngày (khoảng từ 9 đến 24 ngày). Yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt (G-CSF) có thể được cân nhắc điều trị bổ sung khi ANC rất thấp, đặc biệt ≤ 0,1 × 10⁹/L, có nhiễm khuẩn nặng hoặc nguy cơ biến chứng cao. Tuy nhiên lợi ích trong giảm trung tính do thuốc còn hạn chế và không đồng nhất, còn nhiều tranh cãi nên không dùng thường quy cho mọi trường hợp giảm nhẹ [3,14].
3.3.4. Lựa chọn kháng sinh thay thế
Lựa chọn thay thế phải phù hợp với tình trạng của bệnh nhân: kháng sinh còn hiệu lực với căn nguyên, phù hợp ổ nhiễm và tránh tái phơi nhiễm không cần thiết với thuốc gây tác dụng này. Lựa chọn kháng sinh phù hợp với kháng sinh đồ (KSĐ) là một trong các căn cứ quan trọng để lựa chọn kháng sinh thay thế phù hợp với vị trí nhiễm khuẩn và loại vi khuẩn.
3.3.5. Theo dõi hồi phục và phòng ngừa tái diễn
Sau khi ngừng và thay đổi thuốc, tiếp tục theo dõi chỉ số xét nghiệm đến khi ANC hồi phục ổn định, đồng thời theo dõi các diễn biến khác như sốt, vị trí nhiễm khuẩn và các dòng tế bào khác trong xét nghiệm. Nếu ANC tiếp tục giảm hoặc kéo dài, cần xem lại những thuốc còn sử dụng và xác nhận thêm nguyên nhân gây ra tình trạng đó.
Bên cạnh đó, nhân viên y tế cần thực hiện báo cáo ADR ngay khi phát hiện. Dược sĩ lâm sàng phối hợp bác sĩ đánh giá lại chỉ định và thời gian điều trị, hướng dẫn dấu hiệu cần tái khám và hỗ trợ báo cáo ADR. Việc lựa chọn đúng kháng sinh, đọc xu hướng ANC và đáp ứng kịp thời với bất thường giúp hạn chế nguy cơ huyết học trong khi vẫn bảo đảm điều trị nhiễm khuẩn.
IV. KẾT LUẬN
Giảm bạch cầu hạt liên quan đến sử dụng kháng sinh, nhất là trong lạm dụng kháng sinh tuy hiếm gặp nhưng thường gây ra những hậu quả vô cùng nặng nề, nguy cơ này cần được giám sát chủ động khi người bệnh được điều trị kéo dài. Việc nhận diện tác dụng giảm bạch cầu hạt do kháng sinh có thể gặp khó khăn do các biểu hiện dễ bị nhầm lẫn với diễn tiến của bệnh nhiễm khuẩn hoặc tác động của thuốc dùng đồng thời.
Bài viết này tổng hợp những vấn đề về đặc ứng của kháng sinh gây giảm bạch cầu hạt bao gồm xác định những kháng sinh thường gây tác dụng này; dự phòng và nhận diện sớm xu hướng giảm giảm bạch cầu hạt bằng cách theo dõi công thức máu thường xuyên để ngừng kịp thời kháng sinh nghi ngờ hay thay đổi thuốc khi xuất hiện bất thường nhằm giảm tỉ lệ xảy ra biến cố gây giảm bạch cầu hạt, bảo đảm an toàn và duy trị hiệu quả điều trị cho gười bệnh.
- Holz JM, Chevtchenko AV, Aitullina A. Acute antibiotically induced neutropenia: A systematic review of case reports. Br J Clin Pharmacol. 2022;88(5):1978–1984.
- Lam PW, Leis JA, Daneman N. Antibiotic-Induced Neutropenia in Patients Receiving Outpatient Parenteral Antibiotic Therapy: a Retrospective Cohort Study. Antimicrob Agents Chemother. 2023;67(3):e01596-22.
- Curtis BR. Non–chemotherapy drug–induced neutropenia: key points to manage the challenges. Hematology Am Soc Hematol Educ Program. 2017;2017(1):187–193.
- Punnapuzha S, Edemobi PK, Elmoheen Febrile Neutropenia.Treasure Island (FL):
StatPearls Publishing; 2023 Jan. [Updated 2023 Mar 30]. Retrieved October 07, 2026, from: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK541102/
- Fioredda F, Skokowa J, Tamary H, et al. The European Guidelines on Diagnosis and Management of Neutropenia in Adults and Children: A Consensus Between the European Hematology Association and the EuNet-INNOCHRON COST Action. HemaSphere. 2023;7(4):e872.
- Roy MP, Calon F, Simonyan D, Bergeron L. Risk of Neutropenia in Adults Treated with Piperacillin–Tazobactam or Cefazolin: A Retrospective Cohort Study. Can J Hosp Pharm. 2022;75(3):186–192.
- Cimino C, Allos BM, Phillips EJ. A Review of β-Lactam-Associated Neutropenia and Implications for Cross-reactivity. Ann Pharmacother. 2021;55(8):1037–1049.
- Sullivan EL, Turner RB, O’Neal HR Jr, Crum-Cianflone NF. Ceftaroline-Associated Neutropenia: Case Series and Literature Review of Incidence, Risk Factors, and Outcomes. Open Forum Infect Dis. 2019;6(5):ofz168.
- Black E, Lau TTY, Ensom MHH. Vancomycin-induced neutropenia: is it dose- or duration-related? Ann Pharmacother. 2011;45(5):629–638.
- National Library of Medicine. BACTRIM DS and BACTRIM (sulfamethoxazole and trimethoprim): Drug Label. DailyMed. Retrieved October 07, 2026, from:
https://dailymed.nlm.nih.gov/dailymed/drugInfo.cfm?setid=f59d0c04–9c66–4d53a0e1–cb55570deb62
- National Library of Medicine. Chloramphenicol sodium succinate for injection: Drug Label. DailyMed. Retrieved October 07, 2026, from:
https://dailymed.nlm.nih.gov/dailymed/drugInfo.cfm?setid=aed29594–211d–49ef813f–131975a8d0e3
- Tamma PD, Bonomo RA, Heil EL, Justo JA, Satlin MJ, Mathers AJ. IDSA 2026 Guidance on the Treatment of Antimicrobial Resistant Gram-Negative Infections.
Infectious Diseases Society of America; 2026. Retrieved October 07, 2026, from: https://www.idsociety.org/practice–guideline/amrguidance/
- Brown NM, Goodman AL, Horner C, Jenkins A, Brown EM. Treatment of methicillinresistant Staphylococcus aureus (MRSA): updated guidelines from the UK. JAC Antimicrob Resist. 2021 Feb 3;3(1):dlaa114.
- Andrès E, Lorenzo Villalba N, Zulfiqar AA, Serraj K, Mourot-Cottet R, Gottenberg JE. State of Art of Idiosyncratic Drug-Induced Neutropenia or Agranulocytosis, with a Focus on Biotherapies. J Clin Med. 2019;8(9):1351.






