Tác giả: TS Hồ Đắc Thái Hoàng
Khi “xanh” trở thành điều kiện để tiếp cận thị trường và dòng vốn, chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện riêng của ngành môi trường. Đó là một cuộc đua toàn cầu. Liên minh châu Âu mở đầu bằng Thỏa thuận Xanh tháng 12/2019, rồi áp cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) với giai đoạn chuyển tiếp từ tháng 10/2023 và nghĩa vụ tài chính chính thức từ ngày 01/01/2026. Hoa Kỳ đáp lại bằng Đạo luật Giảm lạm phát năm 2022, kèm gói trợ cấp công nghiệp sạch với quy mô chưa từng có. Trong bối cảnh ấy, mỗi lần một nguyên thủ nhắc đến chuyển đổi xanh là một lần quốc gia đó định vị mình trong chuỗi giá trị đang được vẽ lại, đồng thời tuyên bố ý chí chính trị trước nhà đầu tư và đối tác. Việt Nam đã chọn vị trí từ cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại COP26 và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021). Tại Hội nghị Thượng đỉnh P4G ở Hà Nội tháng 4/2025, Thủ tướng khẳng định chuyển đổi xanh là yêu cầu khách quan, tất yếu.
Với Huế, một đô thị di sản, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 1/1/2025, sẽ bước vào cuộc đua này bằng cách nào. Khẩu hiệu không trả lời được câu hỏi đó. Muốn chuyển đổi xanh thành chính sách đo đếm được và phản biện được, chúng ta sẽ thử phân tích theo 4 khía cạnh.
1. Đối tượng hệ thống đang được chuyển đổi
Ở Huế, đối tượng ấy không phải một nhà máy hay một ngành đơn lẻ mà là một hệ thống kép: hệ kinh tế – kỹ thuật đô thị gồm năng lượng, giao thông, xây dựng, du lịch, xử lý chất thải, đặt trên một nền sinh thái hiếm có. Từ dãy Bạch Mã xuống đồng bằng, qua hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng khoảng 22.000ha, tới dải đụn cát và rừng ngập mặn ven biển, thành phố sở hữu trọn một lát cắt sinh thái từ núi ra biển. Nếu chỉ hiểu chuyển đổi xanh là điện mặt trời và xe điện, Huế sẽ bỏ quên chính phần vốn tự nhiên làm nên lợi thế riêng của mình. Rừng ngập mặn Rú Chá hay đai rừng phi lao trên đụn cát vừa là hạ tầng phòng hộ thiên tai, vừa là bể hấp thụ carbon, vừa là sản phẩm du lịch sinh thái. Đó là đối tượng chuyển đổi đúng nghĩa, không phải phần trang trí.
Nguồn: https://www.swisscore.org/how-ri-can-support-the-green-transition/
2. Tiêu chí chuẩn tắc của “xanh”
Đòi tách rời tuyệt đối giữa tăng trưởng và phát thải ngay lập tức là phi thực tế với một nền kinh tế đang cần tăng tốc. Tiêu chí khả thi hơn là tách rời tương đối: mỗi đồng GRDP tạo ra phải tiêu tốn ít năng lượng, ít nước, ít đất và ít phát thải hơn năm trước. Song tách rời tương đối chỉ có nghĩa khi được neo vào một mức trần. Khung ranh giới hành tinh do Rockström và cộng sự đề xuất trên tạp chí Nature năm 2009 cung cấp mức trần đó; bản cập nhật của Richardson và cộng sự (2023, Science Advances) cho thấy sáu trên chín ranh giới đã bị vượt. Amsterdam từ năm 2020 đã thử đưa khung này xuống quy mô đô thị. Với Huế, ranh giới hành tinh có thể quy đổi thành những ngưỡng cụ thể: sức tải của đầm phá, ngưỡng khai thác nước ngầm vùng cát, diện tích rừng phòng hộ tối thiểu, sức chứa du khách của khu di sản. Tăng trưởng được phép, nhưng trong khoảng an toàn ấy.
3. Cơ chế và chủ thể dẫn dắt
Kinh nghiệm của châu Âu, Hoa Kỳ hay Hàn Quốc đều cho thấy thị trường tự thân không xanh hóa đủ nhanh; nhà nước phải dẫn dắt bằng quy hoạch, chuẩn kỹ thuật, mua sắm công và tín dụng ưu đãi. Rodrik (2014, Oxford Review of Economic Policy) gọi đó là chính sách công nghiệp xanh. Ở cấp thành phố, vai trò dẫn dắt nằm ở những công cụ chính quyền Huế đang nắm: Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021-2030 đang được rà soát, cơ chế đặc thù của đô thị trực thuộc Trung ương, tiêu chí chọn dự án tại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô. Nhà nước dẫn dắt nhưng không làm thay thị trường. Doanh nghiệp vẫn là chủ thể đầu tư, còn cộng đồng là chủ thể giữ cho sự phát triển bền vững. Ngư dân đầm phá với mô hình đồng quản lý nghề cá, hộ dân vùng cát với rừng phòng hộ, cư dân nội thành với thói quen tiêu dùng và phân loại rác: thiếu họ, mọi dự án xanh chỉ sống được trong thời hạn tài trợ.
4. Phân bổ chi phí và lợi ích
Chuyển đổi xanh có người được, kẻ mất. Ngành nào bị siết chuẩn phát thải, hộ nào phải đổi sinh kế khi đầm phá được quy hoạch lại, khu dân cư nào gánh bãi rác: những câu hỏi ấy không né được. Hướng phân bổ hợp lý là kết hợp công ích với tăng trưởng GRDP. Công ích nghĩa là thành quả của chuyển đổi, từ không khí sạch, nguy cơ ngập lụt giảm đến cảnh quan di sản được giữ, phải đến với số đông chứ không dừng ở chủ dự án. Tăng GRDP nghĩa là chuyển đổi phải sinh ra nguồn thu, việc làm và ngành nghề mới để tự nuôi được chính nó, thay vì sống nhờ ngân sách và viện trợ. Thiết kế đúng thì hai mục tiêu không loại trừ nhau. Một mô hình du lịch sinh thái đầm phá do cộng đồng vận hành, có hạn ngạch khách theo sức tải, vừa nâng giá trị gia tăng của ngành du lịch vừa giữ nguồn lợi thủy sản cho ngư dân. Tín chỉ carbon từ phục hồi rừng ngập mặn, nếu cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch, có thể thành nguồn thu cho chính cộng đồng giữ rừng.
Huế không bắt đầu từ con số không. Thành phố có Kế hoạch hành động Thành phố xanh từ năm 2015 trong khuôn khổ hợp tác với ADB, được WWF vinh danh “Thành phố xanh quốc gia” đầu tiên của Việt Nam năm 2016 và nhận lại danh hiệu này tại One Planet City Challenge 2026. Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị xác định đặc trưng “di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường”. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố ngày 09/12/2025 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 tiếp tục đặt mục tiêu đô thị xanh, thông minh, giàu bản sắc. Cái thiếu là năng lực chuyển hóa. Hội thảo khoa học quốc gia tổ chức tại Huế ngày 10/4/2026 đã nhận định thẳng: thành phố có nền tảng nhưng chưa bứt phá, có lợi thế nhưng chưa biến hết thành động lực tăng trưởng.
Bốn khía cạnh trên là chiếc cầu bắc qua khoảng trống đó. Xác định đúng hệ thống cần chuyển đổi, lấy ranh giới sinh thái làm trần, để nhà nước dẫn dắt thị trường và cộng đồng giữ nhịp bền vững, phân bổ thành quả theo hướng công ích gắn với tăng trưởng: đó là con đường để danh hiệu “thành phố xanh” trở thành năng lực cạnh tranh thật. Trong cuộc đua toàn cầu, Huế không cần chạy nhanh nhất. Huế cần chạy đúng làn của mình.






