Trạng thái đề tài:
Lĩnh vực: Giáo dục và đào tạo
Hoạt động: Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật
Năm: 2026
Ngày nộp đề tài: 02/08/2026
Thông tin nhóm tác giả
Tên tác giả / nhóm tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga, Nguyễn Thị Tân An, Hoàng Minh Vũ, Đỗ Quang Tâm
Đơn vị công tác của chủ nhiệm: Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế
Địa chỉ cơ quan của chủ nhiệm: 06 Ngô Quyền, phường Thuận Hóa, Thành phố Huế
Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp
Tính mới so với các đề tài/giải pháp đã công bố tại thành phố Huế và Việt Nam: Thứ nhất, đề tài đề xuất quy trình 5 bước thiết kế bài tập mô hình hóa toán học (Xác định nội dung kiến thức; Lựa chọn bối cảnh, tình huống; Thiết kế bài tập; Thực nghiệm sư phạm; Chỉnh sửa và hoàn thiện) dành riêng cho học phần XSTKYH của khối ngành Khoa học sức khỏe. Các công bố trong nước trước đây (Đồng Thị Hồng Ngọc và Nguyễn Danh Nam, 2021; Nguyễn Thị Hồng Nga, 2023) hoặc hướng đến khối ngành Kinh tế, hoặc chỉ đề xuất quy trình dạy học theo hướng mô hình hóa, chưa có quy trình thiết kế bài tập cho người dạy. Thứ hai, đề tài xây dựng bộ tiêu chí đánh giá gồm 3 năng lực thành phần (NLTP1, NLTP2, NLTP3) kèm 3 yêu cầu cần đạt (YC1, YC2, YC3) được cụ thể hóa cho nội dung “Kiểm định”. Đây là sự tinh gọn có căn cứ từ khung 5 năng lực thành phần của Maaß (2006) và Blum & Kaiser (1997), giúp giảng viên (GgV) quan sát và chấm điểm được năng lực MHHTH ngay trên bài làm của SV mà không cần công cụ đo lường phức tạp. Thứ ba, đề tài được nghiệm thu vào tháng 12/2025 với kết quả Tốt. Tính sáng tạo: Thứ nhất, đề tài chủ động đưa vào “thông tin gây nhiễu” và “giả thiết ẩn” có kiểm soát vào đề bài. Ví dụ, bài tập kiểm định tỉ lệ được đưa thêm số liệu của ba khu vực thành thị, nông thôn, miền núi; bài tập kiểm định trung bình sử dụng cụm từ “phù hợp với khuyến cáo của WHO” (giả thiết ẩn về xác định dạng toán kiểm định phù hợp) và “ở mức gần bằng nhau” (giả thiết ẩn về phân phối chuẩn). Đây là điểm khác biệt căn bản so với bài tập truyền thống: mức độ nhiễu trở thành một tham số điều chỉnh được để phân hóa theo trình độ người học. Thứ hai, đề tài chuyển giả thiết từ kênh chữ sang kênh hình (biểu đồ tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì; infographic khuyến cáo lượng muối của WHO), buộc SV phải đọc, chọn lọc và mã hóa thông tin trước khi mô hình hóa. Cách biểu diễn này phù hợp với dữ liệu y học được trình bày trong thực tế. Thứ ba, đề tài xây dựng quy trình có vòng lặp tự hoàn thiện. Bước 4 (thực nghiệm sư phạm) và bước 5 (chỉnh sửa) khiến quy trình trở thành một chu trình mở, cho phép GgV liên tục hiệu chỉnh độ khó, độ nhiễu của ngân hàng bài tập theo từng khóa, từng chuyên ngành. Thứ tư, đề tài đưa ra bối cảnh nghề nghiệp đặc thù: toàn bộ hệ thống bài tập minh họa được đặt trong bối cảnh dinh dưỡng, đây là lĩnh vực đang có nhu cầu nhân lực cấp thiết. Đảm bảo tính khoa học và ưu việt khi ứng dụng vào thực tiễn: Quy trình được xây dựng trên cơ sở lí luận về MHHTH và năng lực MHHTH, được kiểm nghiệm bằng thực nghiệm sư phạm trên 210 sinh viên năm thứ nhất ngành Y khoa, Trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế, năm học 2024 – 2025, với dữ liệu được phân tích bằng cả phương pháp định lượng và định tính. Về tính chưa được trao giải: Đề tài chưa được trao giải thưởng tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật và Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ thành phố Huế cũng như các tỉnh, thành phố khác; chưa được trao giải thưởng tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật, Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ toàn quốc trước thời điểm nộp hồ sơ dự thi.
Khả năng ứng dụng
Đề tài đã được áp dụng trong thực tế, không dừng ở đề xuất lí thuyết. Quy trình và hệ thống bài tập đã được lồng ghép trực tiếp vào các giờ dạy học phần XSTKYH tại Trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế trong năm học 2024 – 2025, thực nghiệm trên 210 SV ngành Y khoa và triển khai giảng dạy cho SV ngành Dinh dưỡng. Đề tài có khả năng nhân rộng cao vì ba lí do: (i) không phụ thuộc thiết bị, phần mềm hay hạ tầng đặc thù, chỉ cần năng lực chuyên môn của GgV; (ii) quy trình mang tính khái quát, có thể áp dụng cho các nội dung khác của học phần (ước lượng, tương quan – hồi quy, phân tích phương sai) và các bối cảnh y học khác (dịch tễ, xét nghiệm, dược lâm sàng); (iii) tiết kiệm thời gian sau khi ngân hàng bài tập đã được xây dựng. Phạm vi nhân rộng dự kiến: Đề tài được nghiên cứu trên đối tượng là SV năm nhất ngành Y khoa và triển khai cho SV ngành Dinh dưỡng. Nghiên cứu có khả năng được áp dụng và mở rộng trong dạy học cho SV các ngành y dược khác ở Trường Đại học Y – Dược – Đại học Huế, sau đó là các trường đại học y dược trong cả nước. Khả năng thương mại hóa: sản phẩm của đề tài có thể được phát triển thành ngân hàng bài tập MHHTH, tài liệu tham khảo,giáo trình của học phần XSTKYH, các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp giảng dạy cho GgV, hoặc học liệu số phục vụ đào tạo trực tuyến.
Hiệu quả kinh tế xã hội
Về hiệu quả kinh tế: Giải pháp không đòi hỏi đầu tư trang thiết bị, phần mềm bản quyền hay cải tạo cơ sở vật chất; chi phí chủ yếu là công sức thiết kế bài tập của GgV trong giai đoạn đầu, sau đó chi phí sử dụng lại gần như bằng không. So với các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học cùng mục tiêu (đầu tư phòng máy, mua phần mềm thống kê thương mại, thuê chuyên gia tập huấn), chi phí triển khai thấp hơn đáng kể trong khi vẫn tác động trực tiếp đến năng lực người học. Việc rút ngắn thời gian SV phải làm quen với xử lí số liệu ở giai đoạn làm khóa luận, nghiên cứu khoa học và thực hành nghề nghiệp giúp giảm chi phí đào tạo lại cho cả nhà trường và cơ sở sử dụng lao động. Ngân hàng bài tập và tài liệu bổ trợ hình thành từ đề tài là tài sản trí tuệ có thể khai thác lâu dài, tạo giá trị gia tăng cho hoạt động đào tạo của đơn vị. Về hiệu quả kỹ thuật: So với cách thiết kế bài tập truyền thống, bài tập theo quy trình đề xuất có thêm các chỉ tiêu tiến bộ: mức độ nhiễu điều chỉnh được, giả thiết ẩn có kiểm soát, kênh trình bày đa dạng (chữ, bảng, biểu đồ) và bộ tiêu chí đánh giá năng lực thành phần cho phép định lượng mức độ đạt được của người học theo từng yêu cầu cụ thể. Về hiệu quả xã hội: Giải pháp góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ y tế có tư duy phân tích, tư duy dựa trên dữ liệu và ra quyết định dựa trên bằng chứng. Đây là yếu tố nền tảng cho chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Bối cảnh dinh dưỡng của hệ thống bài tập đồng thời nâng cao nhận thức của SV về các vấn đề sức khỏe cộng đồng đang cấp thiết (thừa cân, béo phì ở trẻ em, tiêu thụ muối vượt khuyến cáo của WHO), qua đó lan tỏa tới hoạt động tư vấn, truyền thông giáo dục sức khỏe sau này.


