Triển khai bốn trụ cột “quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế” để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Tác giả: TS. Đặng Thanh Phú

Xuyên suốt các kỳ đại hội, quan điểm và tư duy của Đảng trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng và đối ngoại luôn có những thay đổi, tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế xã hội, vị thế của đất nước và bối cảnh quốc tế. Với Đại hội XIV lần này, lần đầu tiên hội nhập quốc tế được nâng tầm để trở thành một trong bốn “trụ cột” trọng yếu, thường xuyên.

Nhìn lại quan điểm, tư duy của đảng về các trụ cột qua các kỳ đại hội

Trong mỗi thời kỳ lịch sử, cách nhìn nhận của Đảng liên quan đến an ninh, quốc phòng, đối ngoại có sự khác biệt rõ nét. Trong Cương lĩnh vào năm 1991, Đảng ta chưa đề cập đến sự phối hợp giữa bốn trụ cột nói trên khi xây dựng các chiến lược, các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Thay vào đó, Đảng chỉ xác định như “kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh”, hay “quốc phòng, an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội”.

Đến đại hội VIII (1996), cách nhìn nhận của Đảng ta về mối tương quan của ba lĩnh vực đối ngoại, an ninh và quốc phòng đã có thay đổi rõ rệt; trong đó xác định “kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế; gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ trong tình hình mới; và phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng – an ninh với hoạt động đối ngoại”. Từ đại hội này, ba nội dung gồm đối ngoại, an ninh, quốc phòng được đưa vào các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị.

Và đến đại hội XII, bên cạnh khẳng định cần kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, Đảng đã nhấn mạnh đến vai trò của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

Đưa “hội nhập quốc tế” trở thành một trong bốn trụ cột trọng yếu và thường xuyên

Khác với các kỳ Đại hội trước, đến Đại hội XIII, Đảng ta đã bước đầu thừa nhận tầm quan trọng của đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đảng cho rằng việc mở rộng và phát triển thực chất quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế là để Việt Nam chủ động hơn khi tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương của khu vực và thế giới, cũng như giải quyết tốt hơn mối quan hệ hữu hảo với các quốc gia láng giềng, các quốc gia có quan hệ truyền thống hữu nghị, và các đối tác của Việt Nam.

Việc ra đời Nghị quyết số 59-NQ/TW về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới cho thấy một quyết định đúng đắn và tầm nhìn chiến lược của Đảng khi đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nghị quyết là giải pháp kịp thời giúp tháo gỡ nút thắt về thể chế, đưa hội nhập quốc tế trở thành một động lực quan trọng phục vụ quá trình của đất nước trong giai đoạn mới, phản ánh cách tiếp cận mới của Đảng về hội nhập quốc tế và đối ngoại dựa trên nền tảng kế thừa, phát huy giá trị đặc sắc của dân tộc cùng với tiếp thu cái hay, cái mới của nhân loại.

Với người đứng đầu Đảng, trong bài viết của mình có tiêu đề “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhắc đến khái niệm về hội nhập quốc tế, đồng thời cho rằng hội nhập quốc tế là trình độ phát triển cao hơn của hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh thế giới đứng trước nhiều rủi ro về biến đổi khí hậu, an ninh truyền thống và phi truyền thống, chiến tranh mạng, xung đột quân sự, càng đòi hỏi các quốc gia trên thế giới càng phải phối hợp chặt chẽ với nhau hơn. Với thế và lực như hiện nay, Việt Nam càng cần phải gắn kết nhiều hơn, tham gia có trách nhiệm và tích cực hơn nữa vào giải quyết các vấn đề toàn cầu. Điều này càng khẳng định phát huy vai trò của hội nhập quốc tế và công tác đối ngoại.

Trong phạm vi toàn cầu, hội nhập quốc tế và đối ngoại không thuộc về trách nhiệm của một quốc gia đơn lẻ, thay vào đó là sự chung tay, phối hợp của một số, hay nhiều quốc gia theo cơ chế song phương và đa phương để cùng giải quyết những vấn đề của khu vực và thế giới, như: gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo; hóa giải các xung đột, tranh chấp biên giới và lãnh thổ; phát triển bền vững, ứng phó BĐKH; phát triển năng lượng tái tạo, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn. Việc triển khai hội nhập quốc tế cần dựa trên các nguyên tắc, quy định của luật pháp quốc tế như Hiến chương, nghị quyết của Liên hợp quốc để xử lý và giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới (việc Tổng thống Mỹ Donald Trump mời Tổng Bí thư Tô Lâm dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Dải Gaza từ ngày 18-20.2 một lần nữa khẳng định vị thế, uy tín quốc tế gia tăng của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay).

Tổng Bí thư Tô Lâm chụp ảnh chung với Tổng thống Mỹ Donald Trump. Ảnh: TTXVN.

Hội nhập quốc tế, vì vậy, là xu thế phát triển của mọi quốc gia trên thế giới. Điều này càng quan trọng khi Việt Nam đang hội nhập rất sâu, toàn diện vào kinh tế thế giới. Hội nhập quốc tế sẽ giúp Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển, song mặt khác cũng mang lại nhiều rủi ro về an ninh, chính trị, trật tự xã hội trong nước và hạnh phúc của mỗi người dân. Là thành viên của cộng đồng thế giới, nếu không hội nhập và phát triển, thì Việt Nam sẽ khó đạt được sự ổn định và phát triển. Hội nhập quốc tế giờ đây đan xen mật thiết với đối ngoại, quốc phòng và an ninh.

Từ nhận thức trên, Đại hội XIV vừa qua của Đảng đã tạo ra một bước ngoặt mới trong tiến trình phát triển của đất nước khi nhận diện rõ nét, đầy đủ, bao trùm về ý nghĩa lớn lao, cũng như vị thế to lớn của hội nhập quốc tế và đưa nội dung này trở thành một trong bốn trụ cột nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Phát huy tính trọng yếu, thường xuyên của “bốn trụ cột” trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

Mối quan hệ giữa an ninh, quốc phòng, đối ngoại, và hội nhập quốc tế là biện chứng, có tính phối hợp chặt chẽ và luôn bổ trợ lẫn nhau, bởi suy cho cùng bốn trụ cột này không tự mình phát triển, mà phải có sự gắn kết để cùng phát triển trong một thể thống nhất. Đảng ta đã vận dụng linh hoạt và kết hợp tài tình bốn trụ cột này để tạo ra sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ cho “trong ấm, ngoài êm”, vừa chăm lo phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng vững mạnh, tự chủ, tự lực, tự cường; đồng thời mở rộng bang giao, hòa hiếu với các nước láng giềng. Trong thời bình, mối quan hệ này lại càng không được lơ là, thay vào đó, Đảng tiếp tục chú trọng kết hợp hài hòa, vận dụng linh hoạt, khôn khéo, và cập nhật liên tục để hoàn thiện cả bốn nhiệm vụ nói trên, qua đó tiếp tục sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc vững chắc trong tình hình mới.

Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam (2024). Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Bên cạnh tính gắn kết chặt chẽ, mối quan hệ của bốn trụ cột còn có tính phối hợp, bổ trợ rất cao. Việc bổ sung Quy chế phối hợp trong công tác tham mưu của các bộ, ngành trong phân tích, dự báo tình hình, đề xuất các giải pháp thực hiện được Đảng hết sức quan tâm trong công tác chỉ đạo.

Cùng với biện chứng, tính phối hợp và bổ trợ lẫn nhau, cả bốn trụ cột nói trên đều được xem là các nội dung then chốt, cốt lõi và liên tục được thực hiện, đồng thời liên quan mật thiết đến mọi mặt của đời sống xã hội, do vậy việc nhìn nhận, phân tích, đánh giá bốn nội dung trên phải được tích hợp và đặt trong tổng thể chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trong đó xem lợi ích quốc gia – dân tộc là trên hết, coi nhân dân là chủ thể trung tâm trong bảo vệ Tổ quốc. Đây là một nhiệm vụ chung của toàn xã hội, chứ không thuộc riêng về bất kỳ một ngành nào, do vậy đòi hỏi một sự chung sức, chung lòng, hợp sức, đoàn kết để thực hiện sứ mệnh cao cả này một cách liên tục.

Trong bài “Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định “đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phải chủ động chiến lược, giữ hòa bình, ổn định và mở rộng không gian phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới”. Tổng Bí thư đã nhắc lại câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa khi đất nước ta chuyển mình bước vào kỷ nguyên mới thì công tác đối ngoại lại càng được đòi hỏi để triển khai toàn diện ở tầm cao mới qua đó đem lại hòa bình, ổn định, thịnh vượng và gia tăng vị thế của đất nước.

Tính trọng yếu, thường xuyên của bốn trụ cột còn được thể hiện chi tiết tại Nghị quyết số 59-NQ/TW của Đảng về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, phản ánh cách tiếp cận mới của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, cũng như thể hiện được sách lược đúng đắn của Đảng khi đặt cả bốn nội dung nói trên trở thành các nhiệm vụ trọng yếu, và phải được thực hiện thường xuyên.

Đại hội XIV vừa qua của Đảng đã đánh một dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên khẳng định cả bốn nội dung an ninh, quốc phòng, đối ngoại, hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục, chủ động, lâu dài. Điều này một lần nữa thể hiện quan điểm sáng suốt, đúng đắn của Đảng khi đất nước ta bước vào một giai đoạn hội nhập sâu rộng hơn với thế giới.

Đất nước đang bước vào giai đoạn mới với những thời cơ, thách thức và rủi ro đan xen. Điều này càng đòi hỏi thế và lực của Việt Nam phải càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Để hiện thực hóa bốn nhiệm vụ trên và đảm bảo được tính trọng yếu và thường xuyên, có thể xem xét một số định hướng phù hợp với bối cảnh đất nước hiện nay.

Trước hết, cần bổ sung các cơ chế, chính sách mới để giải quyết tốt mối quan hệ hài hòa của “bốn trụ cột” và xem đây là các nội dung cốt lõi, ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, sớm điều chỉnh “Quy chế phối hợp” giữa các cơ quan đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, đơn vị, địa phương trong giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế, tăng cường công tác quản lý Nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế ở các cấp trung ương và địa phương.

Thêm nữa, cần tăng cường tiềm lực và phát triển sức mạnh tổng hợp của an ninh, quốc phòng, đối ngoại và hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới để giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, tạo ra những điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc và từng bước xây dựng uy tín, vị thế của Việt Nam thông qua các diễn đàn quốc tế, khu vực.

Bên cạnh đó, tiếp tục củng cố, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đưa hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế đi vào chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm, phát huy phương châm trong hợp tác quốc tế hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”, “dĩ bất biến ứng vạn biến.

Đồng thời, cụ thể hóa bốn nhiệm vụ trên vào các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, quy chế ở cấp cơ sở địa phương phù hợp với các quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của đất nước, nâng cao nhận thức của người dân để tự phấn đấu, rèn luyện để tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quảng bá hình ảnh đất nước đến bạn bè quốc tế.

Việc triển khai đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả bốn nhiệm vụ trọng yếu về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế sẽ mở ra thời cơ và vận hội đưa đất nước ta vững bước tiến vào giai đoạn mới với tâm thế tự chủ chiến lược, ổn định để phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh, thịnh vượng./.

 

Facebook
Twitter
LinkedIn
Email