Nghiên cứu hiệu quả của kỹ thuật đốt bằng plasma argon (Argon Plasma Coagulation) trong điều trị xuất huyết tiêu hoá kháng trị

Trạng thái đề tài:

Lĩnh vực: Y dược

Hoạt động: Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật

Năm: 2025

Ngày nộp đề tài: 14/07/2025

Thông tin nhóm tác giả

Tên tác giả / nhóm tác giả: Trần Văn Huy, Nguyễn Thị Huyền Thương, Phan Trung Nam, Vĩnh Khánh, Nguyễn Phan Hồng Ngọc, Trương Xuân Long, Nguyễn Thị Ngà, Trần Duy Khiêm, Đặng Thị Cát Vy

Đơn vị công tác của chủ nhiệm: Trung tâm Tiêu hóa - Nội soi, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế

Địa chỉ cơ quan của chủ nhiệm: 41 Nguyễn Huệ, phường Thuận Hóa, Thành phố Huế

Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp

Thập niên vừa qua cho thấy một cuộc cách mạng trong nền nội soi tiêu hóa thế giới, đem lại các thành tựu mà mới cách đây 20 năm không một nhà tiêu hóa nào có thể mơ đến. Trong một thời gian dài, mức độ tiệm cận của ngành nội soi tiêu hóa Việt Nam còn khá hạn chế do nhiều khó khăn về trang thiết bị và đào tạo. Với rất nhiều nỗ lực về con người và thuận lợi về trang thiết bị thông qua nỗ lực đối ngoại không ngừng, chúng tôi đã có thể triển khai nghiên cứu, áp dụng, chuyển giao các công nghệ mới trong nội soi rất sớm từ năm 2013. Tại thời điểm đó, Trung tâm Tiêu hóa - Nội soi của Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế là cơ sở đầu tiên ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên, cũng như là một trong những cơ sở đầu tiên ở Việt Nam tiên phong ứng dụng các kỹ thuật mới lúc bấy giờ, trong đó có APC. Đốt APC là một kỹ thuật cầm máu qua nội soi đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt trong điều trị các trường hợp xuất huyết tiêu hoá dai dẳng hoặc các tổn thương diện rộng như viêm trực tràng sau xạ trị, GAVE, chảy máu từ khối u... Tuy nhiên, tại Việt Nam, số lượng nghiên cứu về hiệu quả của APC trong nhóm bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá kháng trị còn hạn chế. Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào nhóm bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá kháng trị, tức là bệnh nhân đã thất bại với các phương pháp cầm máu thông thường như điều trị thuốc ít hoặc không hiệu quả và các phương pháp cầm máu qua nội soi (tiêm cầm máu, kẹp hemoclip thường ít hiệu quả) mở ra hướng mới trong việc áp dụng APC như biện pháp “cứu cánh”, có thể thực hiện lặp lại trước khi cần đến can thiệp mạch hoặc phẫu thuật, giúp giảm thiểu xâm lấn và biến chứng cho bệnh nhân, đặc biệt ở các nhóm bệnh nhân không đủ điều kiện tiến hành phẫu thuật. Đây cũng là nghiên cứu có tính sáng tạo trong việc tổng hợp, phân tích tỷ lệ thành công, tái xuất huyết, biến chứng và các yếu tố tiên lượng thất bại của APC trên nhóm bệnh nhân đặc thù này. Nghiên cứu này là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế trên nhóm đối tượng bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá kháng trị, góp phần cung cấp số liệu thực tiễn cho việc xây dựng phác đồ điều trị chuẩn hoá cho các trường hợp bệnh lý này. Kết quả nghiên cứu giúp phản ánh một cách khách quan hiệu quả thực tế của phương pháp APC trong điều kiện tại bệnh viện tuyến cuối của miền Trung - Tây Nguyên Việt Nam, nơi có đặc điểm dân số và mô hình bệnh học khác biệt so với các quốc gia phát triển. Và đây là nghiên cứu chưa từng tham dự hoặc đạt giải ở bất kỳ Hội thi Sáng tạo kỹ thuật hay giải thưởng khoa học công nghệ nào tại Huế và toàn quốc trước thời điểm nộp hồ sơ.

Khả năng ứng dụng

Công trình của chúng tôi đã đạt được những kết quả rất khả quan, giúp xử trí các trường hợp xuất huyết tiêu hóa khó can thiệp bằng argon plasma. Argon plasma (APC) đã góp phần điều trị cấp cứu thành công 96,7% các trường hợp xuất huyết dai dẳng, nặng và không đáp ứng với các phương pháp điều trị cổ điển khác, không có trường hợp nào ghi nhận biến chứng. Nguyên nhân Cầm máu thành công Tái phát Tỷ lệ tệ thành công tính theo từng nguyên nhân + Loét dạ dày – tá tràng: 19/19 trường hợp - 100,0% + Chảy máu từ khối u 7/8 trường hợp - 87,5% + Tổn thương loét ruột non 1 trường hợp - 100,0% + Viêm trực tràng sau xạ trị 10 trường hợp - 100,0% + Dị dạng mạch máu 8/9 trường hợp - 88,9% + Chảy máu sau ESD: 13/13 trường hợp - 100,0% Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tăng cường nghiên cứu, cải thiện kỹ thuật, đặc biệt đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học nhằm chứng minh tính hiệu quả, an toàn của APC trong xuất huyết tiêu hoá đối với từng bệnh lý riêng biệt. Kỹ thuật đốt APC cầm máu trong các trường hợp XHTH đã được chứng minh có tính an toàn và hiệu quả cao cho cả bệnh nhân lớn tuổi hoặc có nhiều bệnh nền, quy trình kỹ thuật không quá phức tạp, tạo ra nhiều thuận lợi cho công tác chuyển giao công nghệ, và việc trang bị có thể nằm trong khả năng tài chính của các Bệnh viện tuyến Trung Ương và tuyến tỉnh. Có thể áp dụng cho nhiều nguyên nhân xuất huyết tiêu hoá trên kháng trị, bao gồm viêm trực tràng sau xạ trị, GAVE, chảy máu từ khối u, loét dạ dày tá tràng trên nền xơ hẹp khó can thiệp với clip, tổn thương Dieulafoy, xuất huyết mạch máu nhỏ, chảy máu sau cắt hớt niêm mạc, dưới niêm mạc… Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở để xây dựng phác đồ điều trị chuẩn cho bệnh viện, đồng thời làm tiền đề triển khai nghiên cứu đa trung tâm, mở rộng chỉ định và tối ưu hoá quy trình điều trị xuất huyết tiêu hoá tại Việt Nam.

Hiệu quả kinh tế xã hội

Sử dụng APC trên bệnh nhân xuất huyết kháng trị góp phần giúp giảm tỷ lệ tái xuất huyết, từ đó giảm thời gian nằm viện, giảm nhu cầu truyền máu, giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân và bảo hiểm y tế. Đồng thời, phương pháp điều trị này giúp giảm nhu cầu sử dụng các biện pháp can thiệp xâm lấn hơn như can thiệp mạch hoặc phẫu thuật, vốn có chi phí cao, tiềm ẩn nhiều biến chứng, cần thời gian phục hồi lâu hơn và ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống người bệnh. Về mặt xã hội, khi bệnh nhân được điều trị kịp thời, hiệu quả, sẽ nhanh chóng trở lại lao động, học tập, giảm gánh nặng cho gia đình và cộng đồng. Đây là một trong số các công bố chính thức đầu tiên ở Việt Nam và là nghiên cứu đầu tiên ở miền trung về hiệu quả và độ an toàn của APC trong các trường hợp bệnh nhân XHTH nặng, kháng trị. Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về hiệu quả của APC, không chỉ bổ sung cơ sở khoa học mà còn góp phần nâng cao năng lực điều trị xuất huyết tiêu hoá tại chỗ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân. Ngoài ra, APC còn là một phương pháp an toàn, không gây độc hại môi trường, không tạo ra khí thải độc, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn bệnh viện.

Facebook
Twitter
LinkedIn
Email