Tác giả: TS Đặng Thanh Phú
Cho đến nay Đảng đã ban hành các nghị quyết then chốt, kịp thời tháo gỡ các nút thắt về thể chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn mới. Điều đáng chú ý là trong mỗi nghị quyết của Đảng luôn xác định đối ngoại là giải pháp quan trọng để hiện thực hóa các nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống.
Từ Nghị quyết Đại hội Đảng đến Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33
Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhắc lại quan điểm mới của Đảng từ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV xem ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Từ đây, người đứng đầu Đảng một lần nữa khẳng định đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.
Xét về tổng thể, cục diện đối ngoại tiếp tục được mở rộng và nâng tầm. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập và nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện với 9 đối tác, lên Đối tác chiến lược với 11 nước, lên Đối tác toàn diện với 5 nước.
Đối ngoại còn là kênh phối hợp vững chắc với quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia – dân tộc, không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ.
Đáng chú ý trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho thấy, đối ngoại giờ đây có tính bao trùm, toàn diện hầu hết các lĩnh vực thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, từ an ninh quốc phòng, văn hóa, giáo dục, kinh tế, chính trị, biến đổi khí hậu, giao lưu nhân dân. Đối ngoại hiện nay còn bắt kịp xu thế mới của thời đại về khoa học và công nghệ, từ đó xuất hiện khái niệm “ngoại giao khoa học và công nghệ”.
Ở góc độ kinh tế, đối ngoại đứng trước bối cảnh đặt ra yêu cầu cao hơn để cụ thể hóa nội hàm các hiệp định thương mại tự do với các nước và vùng lãnh thổ, góp phần mở rộng thị trường, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, thu hút vốn, công nghệ và tri thức.
Đối ngoại còn được xác định là động lực then chốt để phục vụ trực tiếp đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế của đất nước nhằm đạt được các mục tiêu đề ra đến năm 2030 và 2045, cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế cao hơn của đất nước trong giai đoạn mới.
Với ý nghĩa và vai trò then chốt trên, đối ngoại đã thực sự trở thành một kênh then chốt được Đảng đưa vào các nghị quyết và xem đây là giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy hiện thực hóa các nghị quyết vào thực tiễn.
Như vậy, từ nghị quyết khai phong về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đến các nghị quyết tiếp theo của Đảng liên quan đến hội nhập quốc tế, kinh tế tư nhân, an ninh năng lượng quốc gia, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế Nhà nước, phát triển văn hóa Việt Nam, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều có dấu ấn của công tác đối ngoại trong triển khai và hiện thực hóa các nghị quyết vào thực tiễn.
Đưa nghị quyết vào chương trình nghị sự trong các chuyến thăm quốc tế của lãnh đạo cấp cao Nhà nước
Đối ngoại hiện nay tiếp tục là một trong bốn trụ cột then chốt, trọng yếu và thường xuyên theo quan điểm, tư duy mới của Đảng. Kể từ Đại hội lần thứ XIV, nhiều nghị quyết mới đã được ban hành kịp thời, giải quyết được các nút thắt về thể chế, nhằm kiến tạo giúp Nhà nước phát huy được các nguồn lực để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.
Song điều đáng nói hơn, với vị thế quốc gia hiện nay, phạm vi và đối tượng của nghị quyết không chỉ giới hạn trong nước, mà cần vươn xa hơn để hướng đến thế giới bên ngoài, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước.
Và với yêu cầu cấp thiết đó, đối ngoại tiếp tục trở thành một kênh giải pháp hữu hiệu để hiện thực hóa các nghị quyết của Đảng đi vào thực tiễn, đảm bảo tính thực chất, hiệu quả và thiết thực.
Điều này có thể được lí giải ngay khi đối ngoại đã chủ động triển khai nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia vào chương trình nghị sự của lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta trong các chuyến thăm chính thức ra nước ngoài.
Cụ thể, khi thăm chính thức Úc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định khoa học, công nghệ cần được xem là trụ cột mới trong quan hệ giữa Việt Nam và Úc. Tổng Bí thư và Thủ tướng Úc cùng chia sẻ mục tiêu đưa khoa học và công nghệ trở thành động lực mới trong quan hệ song phương giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Diễn đàn. Nguồn: TTXVN.
Khi phát biểu tại Diễn đàn Khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, đầu tư, giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam – Úc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định “đối với Việt Nam, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn chất lượng cao không chỉ còn là một lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để thực hiện khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045”.
Tổng Bí thư còn lưu ý hai nước cần xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược kết nối về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với tầm nhìn dài hạn, coi đây là trụ cột mới của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Úc.
Diễn đàn lần này có sự tham dự của lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Úc, cùng hơn 500 đại diện là các nhà khoa học, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách của hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chụp ảnh cùng Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro trước hội đàm. Nguồn: TTXVN.
Với chuyến thăm chính thức tại New Zealand, những nội hàm của các nghị quyết của Đảng còn được cụ thể hóa trong các văn kiện được hai bên kí kết. Các vấn đề về thương mại, hội nhập kinh tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế dựa trên công nghệ, hay kinh tế xanh, kinh tế biển, hội nhập kinh tế khu vực, luật pháp quốc tế, v.v… đã được cụ thể hóa vào các nội dung trong Tuyên bố chung giữa Việt Nam và New Zealand.
Tận dụng nguồn lực từ kiều bào
Đối ngoại giờ đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, bao gồm người Việt Nam ở nước ngoài.
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 còn cho thấy Tổng Bí thư hết sức quan tâm đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, bởi đây là nguồn lực to lớn vừa tham gia quảng bá hình ảnh của đất nước, vừa đóng góp trí tuệ, tài và vật lực để phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Việc phát huy công tác đối ngoại thông qua kiều bào còn giúp kết nối với các tập đoàn công nghệ, chuyên gia, trí thức, các nhà khoa học hàng đầu tại các quốc gia nơi có kiều bào sinh sống.
Từ xác định vai trò to lớn của kiều bào ta ở nước ngoài, Đảng đã kịp thời ban hành nghị quyết 23-NQ/TW về công tác kiều bào. Với nghị quyết này, Đảng đồng thời khẳng định “kiều bào là nguồn lực mềm tạo sức mạnh cứng cho quốc gia”.
Nghị quyết 23 của Đảng còn đưa ra cách nhìn mới, rõ nét hơn về nguồn lực đối ngoại của quốc gia, cụ thể là “sức mạnh ấy (kiều bào) không chỉ được tạo nên từ các cơ quan đại diện, các thỏa thuận quốc tế hay những hoạt động ngoại giao chính thức, mà còn từ cộng đồng người Việt đang sinh sống, học tập, làm việc và hội nhập tại các quốc gia trên thế giới”.
Khác với nghị quyết 36-NQ/TW, nghị quyết 23-NQ/TW tiếp tục khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời xác định đây là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Với nghị quyết 23, yêu cầu đặt ra cho công tác đối ngoại là phải xây dựng bằng được một cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng và phát triển ổn định; giữ gìn, lan tỏa truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị nhân văn, lịch sử và ngôn ngữ tiếng Việt đến thế hệ trẻ và các thế hệ người Việt mai sau.
Đất nước đang bước vào tâm thế mới để tương xứng với tầm vóc, lịch sử, văn hóa, và vị thế càng đòi hỏi công tác đối ngoại phải thích ứng, và đặt ra các yêu cầu tương xứng, phức tạp và chuẩn mực cao hơn. Điều này sẽ giúp đối ngoại tham gia sâu hơn, toàn diện hơn vào việc hiện thực hóa các nghị quyết của Đảng, các chiến lược phát triển của đất nước để xây dựng một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Bác Hồ chúng ta từng nói “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là điều cần yếu cho một quốc gia độc lập”. Với đường lối đối ngoại đúng đắn như hiện nay, việc tranh thủ nguồn lực bên ngoài, hay sự giúp đỡ quốc tế là điều cần thiết. Để các nghị quyết của Đảng thực sự đi vào thực tiễn, đã đến lúc đối ngoại cần tiếp tục được phát huy để trở thành một động lực và trụ cột then chốt, trọng yếu và thường xuyên./.







