Vài ý kiến về Luật Di sản văn hóa và một số điểm cần bổ sung cho Luật Di sản văn hóa sửa đổi

Năm 2001, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Di sản văn hóa, sau đó được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về di sản văn hóa (gọi chung là Luật Di sản văn hóa).

Luật Di sản văn hóa đã thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc ở Việt Nam; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với di sản văn hóa, những quy định cấm, những việc được làm, quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, đoàn thể liên quan ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia rộng rãi vào hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, mở rộng giao lưu, tuyên truyền, giới thiệu di sản văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.

Có thể nói, với sự ra đời của Luật Di sản văn hóa, hệ thống pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cơ bản định hình, ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn tạo nên khuôn khổ pháp lý thích hợp cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn cả nước. Luật Di sản văn hóa cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trên lĩnh vực này phát triển.

Tuy nhiên, từ thực tiễn áp dụng và triển khai Luật Di sản văn hóa trong 20 năm qua cũng cho thấy nhưng hạn chế, bất cập của Luật, đòi hỏi cần được điều chỉnh và bổ sung. Với tinh thần ấy, chúng tôi xin nêu một số ý kiến đóng góp dưới đây.

I. Các nội dung cần sửa đổi trong Luật Di sản Văn hóa

1. Tại khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 (sau đây gọi tắt là Luật Di sản văn hóa năm 2009) về t cần xem xét, tách biệt nội dung “tổ chức kiểm kê di tích” và “xếp hạng di tích” vì nếu theo quy định “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm kê di tích ở địa phương và lựa chọn, lập hồ sơ khoa học để quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh; trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia.” thì vô hình chung sẽ hiểu chỉ có những công trình, địa điểm, danh lam – thắng cảnh nằm trong Danh mục kiểm kê di tích của địa phương mới được thực hiện tDanh mục kiểm kê di tích – (3) thực hiện thủ tục đề nghị xếp hạng di tích.

Kiến nghị điều chỉnh: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo lập hồ sơ khoa học để quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh; trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia.”

Nội dung “Điều 1 Luật Di sản văn hóa năm 2009.

2. Tại khoản 15 Điều 1 Luật Di sản văn hóa năm 2009

– Hiện nay, mô hình các Sở quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh, thành gồm: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Sở Văn hóa và Thể thao hoặc Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch, do vậy, nội dung  bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích “đối với di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh” là chưa phù hợp, dễ gây hiểu nhầm là phải được sự đồng ý đồng thời của “Sở Du lịch” và Sở Văn hóa và Thể thao (đối với các tỉnh, thành có thành lập riêng Sở Du lịch).

Kiến nghị sửa đổi: “…Đối với di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa cấp tỉnh”

– Quy định “Tổ chức, cá nhân chủ trì lập quy hoạch, dự án hoặc chủ trì tổ chức thi công, giám sát thi công dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề đối với tổ chức và chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân”Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016; Nghị định 01/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2012 và Nghị định số 166/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ bởi vì theo Điều 2 và Chương III của Nghị định số 166/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2018, công tác  bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích bao gồm 3 loại hình là: (1) Dự án – (2) Báo cáo kinh tế – kỹ thuật – (3) Tu sửa cấp thiết, bảo quản định kỳ; thẩm quyền, quy trình, thủ tục thực hiện các loại hình này cũng khác nhau. Cùng với đó, Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 và Nghị định 01/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2012 và Nghị định số 166/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ quy định về tổ chức, cá nhân hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích có Hành nghề lập dự án tu bổ di tích, báo cáo kinh tế – kỹ thuật tu bổ di tích, thiết kế tu bổ di tích . Do đó, quy định của sửa đổi, bổ sung Điều 34 Luật Di sản văn hóa năm 2001 chỉ quy định chung là Dự án chưa cụ thể.

Kiến nghị sửa đổi: “Tổ chức, cá nhân chủ trì lập, thi công, giám sát thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề đối với tổ chức và chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân”

3. Tại khoản 18 Điều 1 Luật Di sản văn hóa năm 2009

Tương tự như đã nêu tại Mục 2 nêu trên, đề nghị đều chỉnh cụm từ “cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch” thành “cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về văn hóa”.

4. Tại Điều 3 Luật Di sản văn hóa năm 2009 quy định sửa đổi, bổ sung Điều 65 của Luật thi đua, khen thưởng là chưa phù hợp vì thuộc hai lĩnh vực khác nhau. Đồng thời, quy định liên quan đến “Danh hiệu “Nghệ nhân Nhân dân”, “Nghệ nhân Ưu tú” để tặng cho cá nhân có công bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể” đã được quy định tại tại khoản 34 và khoản 35 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi đua, khen thưởng năm 2013.

Kiến nghị lược bỏ quy định Điều 3 Luật Di sản văn hóa năm 2009.

II. Các nội dung cần bổ sung, quy định mới trong Luật sửa đổi, bổ sung sắp tới:

1. Đề nghị bổ sung các từ ngữ liên quan đến công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực di sản văn hóa và mà chưa được định nghĩa tại Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2001:

Một là, “Đối tượng kiểm kê di tích” để phân biệt với các di tích đã được xếp hạng hoặc công trình, địa điểm bình thường.

Căn cứ các tiêu chí quy định tại Điều 28 Luật Di sản văn hóa năm 2001 và khoản 12 Điều 1 Luật Di sản văn hóa năm 2009, đề xuất định nghĩa: “Đối tượng kiểm kê di tích là quần thể công trình xây dựng, công trình xây dựng, địa điểm,cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình xây dựng có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, kiến trúc, nghệ thuật chưa được xếp hạng di tích nhưng đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định đưa vào danh mục kiểm kê di tích và công bố theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa”.

Hai là, “Kiểm kê di tích”, đề xuất định nghĩa: “Kiểm kê di tích là hoạt động nhận diện, xác định giá trị công trình, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên chưa được xếp hạng di tích để lập danh mục di tích theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa”.

Ba là, nghiên cứu bổ sung định nghĩa: “di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới”; “Di sản thiên nhiên thế giới”; “Di sản văn hóa thế giới”; “Di sản tư liệu thế giới”; “Di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp”.

Bốn là, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 28 Luật Di sản văn hóa năm 2001 và khoản 21 Điều 1 Luật Di sản văn hóa năm 2009 có đề cập đến công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử, tuy nhiên, đến nay chưa có quy định thể hiện cụ thể khái niệm, định nghĩa như thế nào là “anh hùng dân tộc”, “danh nhân”, “nhân vật lịch sử”. Vấn đề này không chỉ ảnh hướng đến việc xác định loại hình di tích mà còn tác động đến các hoạt động quản lý Nhà nước khác mà điển hình là công tác đặt, đổi tên đường, phố và các công trình công cộng tại các địa phương vì nó dễ mang ý chí chủ quan, đánh đồng khái niệm gây nhầm lẫn.

2. Chương IV – Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật Di sản văn hóa năm 2009, cần bổ sung thêm Mục quy định cho công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.

3. Về xếp hạng di tích, để bảo tính thống nhất, thuận lợi trong quá trình lập hồ sơ khoa học và đề nghị xếp hạng di tích kiến nghị bổ sung quy định: di tích đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh mới đủ điều kiện đề nghị xếp hạng di tích quốc gia; di tích đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia mới đủ điều kiện đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; di tích đã được xếp hạng quốc gia đặc biệt mới đủ điều kiện đưa vào danh mục xem xét, đề nghị UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới.

4. Về khoanh vùng bảo vệ di tích, Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7 ngày 04 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng Nhà nước về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh thắng ban hành quy định“mỗi di tích lịch sử, văn hoá là bất động sản và danh lam, thắng cảnh có từ một đến ba khu vực bảo vệ”. Do vậy, những hồ sơ di sản văn hóa thế giới tại Việt Nam được UNESCO vinh danh và những di tích đã được cấp có thẩm quyền xếp hạng trước năm 2001 sẽ lập và tiến hành khoanh vùng khu vực bảo vệ di tích theo quy định của Pháp lệnh này (trong đó, có những di sản thế giới, di tích có 3 khu vực khoanh vùng bảo vệ). Đến khi Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009 có hiệu lực thi hành, đã quy định khu vực bảo vệ di tích gồm 2 khu vực (không còn khu vực bảo vệ III) tại Điều 32 và Điều 73 quy định “Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ”, tức là hồ sơ di sản văn hóa thế giới tại Việt Nam được UNESCO vinh danh và những di tích đã được cấp có thẩm quyền xếp hạng có 3 khu vực khoanh vùng bảo vệ phải tiến hành lập lại hồ sơ khoanh vùng bảo vệ di tích để đảm bảo phù hợp với quy định mới. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể để các địa phương triển khai thực hiện, đặc biệt đối với các hồ sơ di tích là di sản văn hóa thế giới.

Do đó, đề nghị bổ sung quy định hướng dẫn đối với trường hợp cần phải tiến hành điều chỉnh khu vực khoanh vùng bảo vệ di tích.

5. Khoản 14 Điều 1 Luật Di sản văn hóa năm 2009 quy định tổ chức thực hiện kiểm kê di tích và công trình, địa điểm được đưa vào danh mục kiểm kê di tích của địa phương, được bảo vệ theo quy định của Luật Di sản văn hóa chưa đảm bảo tính toàn diện giữa bảo tồn các giá trị di sản văn hóa với tính pháp lý của Luật Đất đai bởi vì việc kiểm kê không được lập thành hồ sơ khoa học có xác nhận của các cấp có thẩm quyền và yêu cầu có đơn tự nguyện của cá nhân, tổ chức sở hữu công trình, địa điểm như hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích để làm cơ sở pháp lý về sau. Cùng với đó, các công trình, địa điểm thuộc danh mục kiểm kê di tích cấp tỉnh trong quá trình muốn sửa chữa, cải tạo sẽ chịu sự chi phối các quy định của Luật Di sản văn hóa tương tự như một “di tích cấp tỉnh”; trường hợp công trình, địa điểm chứa đựng những giá trị lịch sử văn hóa được đưa vào danh mục kiểm kê di tích cấp tỉnh nhưng không có sự đồng thuận của cá nhân, tổ chức sở hữu công trình, địa điểm sẽ dễ dẫn đến việc khiếu nại liên quan đến các quy định của Luật Đất đai.

Do đó, đề nghị bổ sung Điều riêng trong Luật hoặc giao Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Nghị định hoặc Thông tư quy định hướng dẫn về thực hiện công tác kiểm kê di tích để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị ở địa phương trong quá trình triển khai thực hiện.

6. Về quản lý, bảo vệ đối với Ban/Tổ bảo vệ di tích (có sự tham gia của lãnh đạo xã, thôn; đại diện Nhân dân thôn/làng; người trú trì do dân cử ra hoặc chủ sở hữu di tích…), ngày 27 tháng 8 năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Công văn số 2946/BVHTTDL-DSVH gửi các Bộ, ngành, địa phương yêu cầu kiện toàn bộ máy quản lý di tích đảm bảo tinh gọn, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ di tích, chấm dứt tình trạng không có hoặc không rõ người chịu trách nhiệm bảo vệ, trông nom di tích. Tuy nhiên, hiện nay, tại nhiều địa phương chưa có chính sách đãi ngộ đối với thành phần nằm trong Ban/Tổ bảo vệ di tích không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước (đại diện Nhân dân thôn/làng, đại diện họ tộc…) trực tiếp và thường xuyên chăm sóc, bảo vệ di tích để khích lệ, động viên, qua đó nâng cao hiệu quả, tinh thần trách nhiệm, ý thức của các cá nhân trong công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích. Do vậy, đề nghị cần có Điều hoặc khoản trong Luật giao UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình bố trí kinh phí hằng năm để hỗ trợ cho thành phần nằm trong Ban/Tổ bảo vệ di tích không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

7. Tại khoản 23 Điều 1 Luật Di sản văn hóa năm 2009: quy định về các Bảo tàng công lập, trong đó, ở địa phương chỉ có “Bảo tàng cấp tỉnh”. Tuy nhiên, thực tế tại các tỉnh, thành có nhiều Bảo tàng chuyên đề (chuyên ngành) trực thuộc các Sở hoặc các đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND cấp tỉnh. Do vậy, đề nghị xem xét bổ sung tại Điều này loại hình “Bảo tàng chuyên đề (chuyên ngành) trực thuộc các cơ quan, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh”.

III  Các nội dung cần quy định phân cấp cho địa phương: 

1. Quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Di sản văn hóa năm 2001Khi phê duyệt dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quy định tại Điều 32 của Luật này mà xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường – sinh thái của di tích thì phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch” tức là đối với di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt phải có ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Đây là một ràng buộc gây khó khăn về thời gian, thủ tục pháp lý trong việc triển khai đầu tư các dự án phát triển kinh tế xã hội và phục vụ nhu cầu dân sinh của dân cư địa phương sinh sống xung quanh khu vực bảo vệ di tích.

Kiến nghị nên ủy quyền cho địa phương hoặc cơ quan, đơn vị được giao trách nhiệm quản lý di tích ban hành quy định riêng (chỉ trừ những trường hợp đặc biệt mới phải xin ý kiến thẩm định bằng văn bản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đối với trường hợp xây dựng, cải tạo gần hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ di tích.

2. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức tham gia vào công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, đề nghị Ủy quyền Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Sở Văn hóa và Thể thao hoặc Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch thỏa thuận đối với thiết kế bản vẽ thi công của dự án tu bổ di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt.

IV. Một số nội dung khác:

1. Nhằm phục vụ công tác thống kê di tích đảm bảo tính thống nhất, đề nghị: Di tích đồng thời đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh và sau đó được xếp hạng di tích cấp quốc gia thì thống kê số liệu là di tích cấp quốc gia (vì qua tìm hiểu cũng có trường hợp cùng một di tích nhưng được thống kê vừa là di tích cấp tỉnh vừa là di quốc gia). Nếu một di tích cấp quốc gia nằm trong quần thể, hệ thống di tích quốc gia đặc biệt hoặc di sản thế giới thì khi thống kê riêng lẻ sẽ thống kê là di tích cấp quốc gia.

2. Tổ chức bộ máy quản lý các Di sản văn hóa Thế giới hiện nay chưa được thống nhất, có địa phương phân cấp cho đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh hoặc có địa phương phân cấp cho đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc có địa phương phân cấp cho đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND cấp huyện trực tiếp quản lý. Điều này nhìn nhận ở góc độ quản lý di sản văn hóa sẽ không đảm bảo tính thống nhất và phần nào đó thể hiện độ “vênh” nhất định về tầm quan trọng, vai trò, giá trị văn hóa – lịch sử gắn liền với di sản.

Do vậy, đề nghị quy định thống nhất về bộ máy quản lý các Di sản văn hóa thế giới đã được UNESCO vinh danh ở các địa phương.

3. Đối với hoạt động tôn vinh và chính sách đãi ngội đối với nghệ nhân, người có công bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu “hợp nhất” Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và Nghị định số 123/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú”  trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ để tránh những bất cập và quy định chồng chéo như hiện tại.

Cùng với đó, nghề thủ công truyền thống thực chất được xác định là một trong những loại hình di sản văn hóa phi vật thể đã được quy định tại Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ, do đó, cần lấy Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ làm căn bản cho việc sửa đổi, bổ sung để hợp nhất.

4. Quy định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề tu bổ di tích cho tổ chức theo Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 và Nghị định 01/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2012 của Chính phủ còn chưa chặt chẽ và làm khó khăn trong tác kiểm tra, hậu kiểm đối với các tổ chức đề nghị cấp Giấy phép hành nghề do không có quy định ràng buộc về hợp đồng lao động của cá nhân (đã có Giấy chứng chỉ đủ điều kiện hành nghề tu bổ di tích) với tổ chức đề nghị cấp Giấy chứng nhận và thành phần hồ sơ thủ tục hành chính đề nghị cấp Giấy chứng nhận cũng không quy định phải có hợp đồng lao động theo quy định giữa hai bên nên thực tiễn trong quá trình kiểm tra, xác minh để cấp Giấy chứng nhận phát hiện một số trường hợp một cá nhân (đã có Giấy chứng chỉ đủ điều kiện hành nghề tu bổ di tích) lại nằm trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận của tổ chức.

Do vậy, kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung quy định để tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương thực hiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề tu bổ di tích cho tổ chức đảm bảo theo đúng các quy định hiện hành liên quan.

*

Trên đây là một số góp ý cụ thể đối với Luật Di sản văn hóa cùng đề xuất bổ sung một số nội dung vào Luật sửa đổi dự kiến sẽ thực hiện trong thời gian tới.

Có thể nói, trong 20 năm qua, Luật Di sản văn hóa đã chứng tỏ vai trò là công cụ pháp lý vô cùng quan trọng để chúng ta quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa phong phú của dân tộc, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi và phát triển nhanh chóng của đất nước, Luật Di sản văn hóa cũng cần liên tục được cập nhật, sửa đổi và bổ sung để đảm bảo đúng vai trò, chức năng của mình../

TS. PHAN THANH HẢI