Logistics: Động Lực Phát Triển Kinh Tế Trong Bối Cảnh Mới

Tác giả: TS. Đặng Thanh Phú

Nền kinh tế của mỗi quốc gia hay toàn cầu chỉ có thể phát triển đồng bộ và thuận lợi nếu chuỗi logistics hoạt động liên tục, hiệu quả. Vai trò của logistics trong nền kinh tế ngày càng được phát huy ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Vừa qua, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố báo cáo về “Chỉ số Hiệu suất Logistics 2023 – Thước đo năng lực vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới của các quốc gia” (LPI). Đáng chú ý, báo cáo của WB đã tiến hành khảo sát tại 139 quốc gia, được công bố chỉ sau 3 năm chuỗi cung ứng bị gián đoạn do đại dịch Covid-19 gây ra tình trạng gián đoạn quá trình vận chuyển toàn cầu.

Tại sao là Logistics?

Logistics được hiểu là một hệ thống quản lý vận tải và hàng hóa, không chỉ góp phần vận chuyển hàng hóa hiệu quả và an toàn mà còn đảm bảo mối liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận của quy trình xuất khẩu. Theo TechTarget, logistics là quá trình lập kế hoạch và thực hiện vận chuyển và lưu trữ hàng hóa hiệu quả từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ. Mục tiêu của logistics là đáp ứng nhu cầu của khách hàng kịp thời và tiết kiệm chi phí.

Theo Giám đốc Toàn cầu về Thương mại, Đầu tư và Năng lực Cạnh tranh của Ngân hàng Thế giới (WB) bà Mona Haddad cho biết “Logistics là huyết mạch của thương mại quốc tế và ngược lại”.

Đáng chú ý, báo cáo trên của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh nền kinh tế chỉ có thể phát triển đồng bộ và thuận lợi nếu chuỗi logistics hoạt động liên tục. Do đó, vai trò của logistics trong nền kinh tế ngày càng được phát huy và trở thành động lực thúc đẩy dòng chảy của các giao dịch kinh tế và cũng là hoạt động quan trọng đối với hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ.

Cụ thể, thời gian vận chuyển trung bình của một container trên tất cả các tuyến thương mại quốc tế tiềm năng là 44 ngày, với độ lệch chuẩn là 10,5 ngày, chiếm 60% thời gian cần thiết để giao thương hàng hóa quốc tế. Việc số hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi, đang cho phép các quốc gia rút ngắn thời gian chờ đợi tại cảng tới 70% so với các nước phát triển. Do nhu cầu về logistics xanh đang ngày càng tăng, nên với 75% các nhà sản xuất hàng hóa đang tìm kiếm các giải pháp thân thiện với môi trường, đặc biệt là khi xuất khẩu sang các nước có thu nhập cao.

Kinh nghiệm phát triển logistics tại các nước

Với nhiều quốc gia, trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế là xu thế tất yếu, logistics đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi đây là công cụ kết nối các hoạt động sản xuất, kinh doanh và giúp các hoạt động này đạt hiệu quả tối ưu.

Trung Quốc là một quốc gia điển hình về phát triển công nghệ logistics. Với đặc thù là quốc gia có diện tích địa lý lớn, Trung Quốc phát triển hệ thống trên nền tảng kết nối các địa phương nhằm tạo ra sự liên kết vững chắc về hạ tầng giao thông nội địa và liên kết các lĩnh vực kinh tế của quốc gia.

Cảng Thâm Quyến – Trung Quốc. (Nguồn: cuongquoclogistics)

Trung Quốc áp dụng hệ thống điện tử thông minh, gồm hệ thống “Cảng tự động” (Automated Sea Port) và “hệ thống Bắc Đẩu” (Beidou Navigation System – BDS, được áp dụng ở Thanh Đảo và Thượng Hải). Hai hệ thống này có tính năng tích hợp, an toàn và không cần nhân lực lớn. Đáng chú ý, hệ thống Cảng tự động góp phần đẩy nhanh hiệu suất vận hành và xử lý hàng hóa tại cảng, trong khi hệ thống BDS áp dụng đồng bộ toàn bộ hệ thống dữ liệu di chuyển của các phương tiện, nhằm tối ưu hóa di chuyển và quy hoạch quốc gia. Hệ thống BDS của Trung Quốc được xem là một phiên bản cao cấp của GPS.

Hiện nay Trung Quốc đã phát triển một Tập đoàn logistics lớn của nước này, dựa trên cơ sở hợp nhất của các tập đoàn, công ty như vật liệu đường sắt, vận chuyển và lưu trữ vật liệu quốc gia, vận chuyển quốc tế, bao bì quốc gia. Tập đoàn Logistics của Trung Quốc hiện có mặt trên 30 tỉnh, thành của quốc gia này và hoạt động trên toàn thế giới.

Cùng với Trung Quốc, Ấn Độ là quốc gia phát triển mạnh về logistics, đã đề ra nhiều chiến lược, chính sách đột phá trong phát triển logistics, trong đó đáng chú ý là “chính sách miễn thuế” cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đường thủy và cảng nội địa như: bảo trì, khai thác và phát triển các hoạt động vận tải, logistics; đồng thời cho phép tư nhân mua nhượng quyền quản lý tại các cảng do Nhà nước sở hữu với thời hạn tối đa là 30 năm đi kèm các quy định cụ thể.

Để khắc phục nhược điểm về đặc điểm địa lý phân cách dẫn đến không thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa nên Ấn Độ đã xây dựng “một mạng lưới nhà kho và cảng cạn (ICD) dày đặc”, nhờ vậy đã giúp phát triển được các hệ thống hạ tầng logistics có liên quan. Ngoài ra, Ấn Độ còn xây dựng một hệ thống đường bộ gồm đường sắt và đường ô tô khá dày đặc (tổng chiều dài quốc lộ hơn 65.000 km, tổng chiều dài các xa lộ khoảng 130.000 km) là cơ sở cho việc phát triển mạng lưới giao thông tại quốc gia này.

Một quốc gia khác ở châu Á là Singapore đã phát triển hệ thống logistics khá bài bản. Singapore hiện là trung tâm vận chuyển hàng hóa với mức độ lưu chuyển rất lớn trên thế giới, kết nối gần 600 cảng tại 120 quốc gia. Để đạt được thành tựu này, Singapore đã đưa ra các chiến lược, quy hoạch và các chính sách phát triển “ngành công nghiệp cảng theo hướng xanh và thông minh”, nhờ đó giúp nước này trở thành trung tâm trong vận tải biển quốc tế. Singapore phát triển “cảng tự động” (hệ thống siêu cảng Tuas của Singapore có diện tích 414 ha, gồm 21 cầu cảng nước sâu, công suất khai thác vận hành rất lớn và hệ thống cảng của Singapore trở thành cảng tự động lớn nhất thế giới) nhằm xử lý hàng hóa, và giúp hoạt động vận tải biển nhanh và hiệu quả hơn trong khi nguồn nhân lực còn hạn chế.

Singapore còn đưa ra các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp vận tải biển, như: trang bị tại các hệ thống cảng các “dịch vụ ngân hàng, bốc dỡ hàng, lưu kho, lưu bãi, đảm bảo nguồn nhiên liệu vận hành”. Nhờ hệ thống dịch vụ tiện lợi này đã giúp Singapore trở thành trung tâm vận tải uy tín trên thế giới và được nhiều doanh nghiệp lựa chọn.

Tại Đức, trung tâm logistics Bremen – GVZ Bremen là trung tâm logistics được xây dựng và khai thác đầu tiên vào năm 1985. Đây là trung tâm logistics thành công nhất nước Đức, liên tục từ năm 2004 luôn là trung tâm logistics GVZ đứng số 1 của Đức cũng như luôn đứng trong Top 10 trung tâm logistics của cả châu Âu. Các chính sách phát triển hoạt động logistics của mô hình logistics này của Đức là khuyến khích các doanh nghiệp đến GVZ Bremen để kinh doanh khai thác, cũng như đầu tư vào trung tâm logistics này (phát triển các công nghệ dây chuyền sản xuất mới, hiện đại như BANANA, GRAIN, chuỗi kho lạnh, v.v…).

Thực tế tại Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có nhiều cơ hội để thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ logistics nhờ hạ tầng giao thông đường bộ, cảng hàng không, cảng biển, kho bãi, hạ tầng thương mại, trung tâm logistics không ngừng được mở rộng với quy mô lớn, rộng khắp. Logistics đã trở thành “mạch máu” của nền kinh tế đất nước, tác động trực tiếp và gián tiếp vào kim ngạch xuất nhập khẩu.

Những năm gần đây, số doanh nghiệp logistics tại Việt Nam tiếp tục gia tăng. Năm 2023, có 7.919 doanh nghiệp logistics thành lập mới. Việt Nam đứng đầu ASEAN về số doanh nghiệp được cấp phép vận chuyển đường biển đi và đến Hoa Kỳ.

Cảng biển Hải phòng. Nguồn: tạp chí công thương

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, dịch vụ logistics của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, đạt khoảng 14-16%, tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt khoảng 60-70%, đóng góp khoảng 4-5% GDP, đưa hoạt động xuất nhập khẩu trở thành điểm sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam. Còn theo Báo cáo về chỉ số Năng lực logistics theo quốc gia năm 2022 của Agility (nhà cung cấp dịch vụ vận tải và hậu cần kho vận hàng đầu thế giới) thì thị trường logistics Việt Nam được xếp thứ 11 trong nhóm 50 thị trường logistics mới nổi toàn cầu. Việt Nam hiện là quốc gia đứng đầu trong các nước ASEAN về số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics được Cơ quan Quản lý hoạt động hàng hải của Mỹ (FMC) cấp phép. Đóng góp của lĩnh vực logistics vào GDP hàng năm ở mức 4-5%.

Báo cáo về chỉ số Năng lực logistics theo quốc gia năm 2023 của Agility còn cho thấy Việt Nam lọt vào top 10 thị trường logistics mới nổi trên thế giới và đứng thứ 4 ở Đông Nam Á, sau Malaysia, Indonesie, Thái Lan. Tuy nhiên, xét về yếu tố cơ hội logistics quốc tế, Việt Nam hiện dẫn đầu Đông Nam Á.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được ban đầu, ngành logistics của Việt Nam đến nay vẫn còn những hạn chế, bất cập, tập trung chủ yếu vào 3 điểm sau: (i) chi phí logistics ở nước ta còn quá cao (tương đương khoảng 20% GDP, trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ tương ứng chỉ khoảng 7-9%), cơ sở hạ tầng phục vụ cho logistics thiếu đồng bộ; (ii) nguồn nhân lực logistics của Việt Nam không những thiếu về số lượng, mà còn yếu cả về chất lượng (báo cáo Logistics Việt Nam 2022 cho thấy số lao động được đào tạo bài bản về dịch vụ logistics chỉ chiếm khoảng 5-7% số lao động đang làm trong lĩnh vực này); (iii) doanh nghiệp logistics Việt Nam nhiều, nhưng không mạnh (doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 30% thị phần, phần còn lại thuộc về DN nước ngoài). Doanh nghiệp Việt Nam quy mô nhỏ, hạn chế cả về vốn và nhân lực, thiếu kinh nghiệm hoạt động quốc tế, chưa có sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi cung ứng logistics và giữa DN dịch vụ logistics với DN xuất nhập khẩu.

Hướng đến các giải pháp bền vững

Từ thực tế của Việt Nam và kinh nghiệm phát triển logistics của một số nước, có thể xem xét một số giải pháp sau nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp logistics tại Việt Nam trong thời gian tới, đó là: (i) cần xây dựng hạ tầng logistics hiện đại, đồng bộ, thông suốt để giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy phát triển ngành hàng không, hàng hải và đường sắt cao tốc; rà soát, điều chỉnh quy hoạch, cơ cấu sản xuất địa phương gắn với phát triển hạ tầng và dịch vụ logistics; gắn kết quy hoạch về trung tâm logistics, cảng cạn, kho lưu trữ trong một tổng thể thống nhất. (ii) nghiên cứu để xây dựng một “Chiến lược logistics xanh, thông minh” phù hợp với bối cảnh phát triển hiện nay của đất nước; hoàn thiện các chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics, nội luật hóa các cam kết quốc tế về logistics; xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics tại địa phương hiệu quả, phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của từng địa phương; (iii) đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành logistics; ưu tiên bố trí ngân sách hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và tiến bộ kỹ thuật cho phát triển dịch vụ logistics, xã hội hóa nguồn lực cho phát triển dịch vụ logistics, nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics; nâng cao năng lực đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng, xử lý tranh chấp liên quan đến hoạt động ligistics; (iv) tăng cường phát triển thị trường dịch vụ logistics, đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho dịch vụ logistics; cải thiện cơ sở hạ tầng logistics gắn với thương mại điện tử; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực logistics, kết nối Việt Nam với các nước lân cận; đẩy mạnh chuyển đổi công nghệ số, bao gồm vấn đề an ninh mạng; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến logistics.

Nhìn chung, ngành logistics của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lẫn cơ hội để phát triển trong thời gian tới. Đã đến lúc cần nhìn nhận và đánh giá đúng về thực trạng logistics hiện nay, học hỏi kinh nghiệm từ các nước để tìm ra giải pháp phù hợp, hiệu quả để qua đó đưa ngành công nghiệp logistics của Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới một cách vững chắc và bền vững./.

Facebook
Twitter
LinkedIn
Email