Tác giả: TS. Đặng Thanh Phú
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức có sự phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng. Đội ngũ trí thức có những đóng góp quan trọng góp phần phát triển đất nước, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài.
Trong truyền thống văn hóa và ý thức xã hội, trí thức thường được đặt ở vị trí hàng đầu “nhất sĩ, nhì nông”. Năm 1484, Thân Nhân Trung viết trên bia Tiến sĩ ở Quốc Tử Giám: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các minh quân không đời nào không coi trọng việc giáo dục nhân tài, tuyển chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia”.
Lê Quý Đôn thì viết “Phi trí tắc vong”, có nghĩa là “không có trí thức, chắc chắn sẽ mất nước”.
Nhận thức được vai trò to lớn của tầng lớp trí thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức”.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, sâu rộng với nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, vai trò của đội ngũ trí thức càng thể hiện mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.
II. TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT 45
Ngày 24/11/2023, tại hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Theo đó, Nghị quyết số 45 đã tổng hợp đánh giá kết quả sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đội ngũ trí thức, nhận thức trong Đảng, hệ thống chính trị và xã hội về vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức ngày càng đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn. Nghị quyết 45 đã nêu rõ những kết quả đạt được, cũng như những tồn tại, khiếm khuyết và các nguyên nhân chưa đạt được trong phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức tham gia vào công cuộc phát triển của đất nước.
Nghị quyết 45 khẳng định: (i) Đội ngũ trí thức là lực lượng lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu về một lĩnh vực, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; giàu lòng yêu nước, có đạo đức và lý tưởng cách mạng, gắn bó với Đảng, Nhà nước và dân tộc; là lực lượng có vai trò quan trọng trong liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; có trách nhiệm tiên phong, tạo ra sản phẩm tinh thần, vật chất chất lượng cao cho xã hội, là nguồn lực đặc biệt trong phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; là nhân tố quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng tầm trí tuệ và sức mạnh dân tộc, đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (ii) Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh toàn diện là đầu tư cho xây dựng, bồi đắp “nguyên khí quốc gia” và phát triển bền vững; là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội. Chú trọng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam cả trong và ngoài nước, có cơ chế, chính sách đột phá thu hút, trọng dụng trí thức, đặc biệt là trí thức tinh hoa, chuyên gia đầu ngành và nhân tài của đất nước; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lớp trí thức trẻ, kế cận. (iii) Động viên đội ngũ trí thức Việt Nam nêu cao lòng tự hào, vinh dự và trách nhiệm đối với Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ đóng góp cho phát triển của đất nước.
Nghị quyết 45 đặt ra các mục tiêu hết sức cụ thể. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, cần: (i) Phát triển đội ngũ trí thức về số lượng và chất lượng, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. (ii) Hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm khả thi, đồng bộ, tạo cơ hội, điều kiện, động lực cho đội ngũ trí thức phát triển toàn diện, nâng cao năng lực, trình độ và cống hiến cho đất nước; ưu tiên bảo đảm nguồn lực cho đầu tư phát triển khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ mũi nhọn; quan tâm đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị, quản lý, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá, văn học, nghệ thuật. (iii) Phát triển một số cơ sở nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học đạt trình độ tiên tiến, thuộc nhóm hàng đầu Châu Á; trong đó Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được xếp hạng trong nhóm 500 đại học hàng đầu thế giới. (iv) Tăng số lượng phát minh, sáng chế, công trình khoa học trong bảng xếp hạng của khu vực và thế giới; sản phẩm khoa học, công nghệ, tác phẩm văn học, nghệ thuật đỉnh cao; công trình công bố trên các tạp chí uy tín trong nước và quốc tế. Nâng chất lượng tạp chí khoa học của Việt Nam đạt trình độ khu vực và quốc tế.
III. NGHỊ QUYẾT 54 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC HUẾ
Cụ thể hóa Nghị quyết 54 của Bộ Chính trị
Ngày 10/12/2019, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 54-NQ/TW (nghị quyết 54) của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đến ngày 30/11/2024, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 175/2024/QH15 về việc thành lập thành phố Huế trực thuộc Trung ương.
Theo Nghị quyết 54, để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Thừa Thiên Huế cần xây dựng và phát triển dựa trên nền tảng bảo tồn, phát huy giá trị di sản cố đô và bản sắc văn hóa Huế, với đặc trưng văn hóa, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh; du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ thông tin và truyền thông là đột phá, công nghiệp và nông nghiệp công nghệ cao là nền tảng.
Ngoài ra, Thừa Thiên Huế cần khai thác, phát huy hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của tỉnh, của vùng, nhất là sự kết hợp hài hòa giữa di sản văn hóa, lịch sử đặc sắc, phong phú với cảnh quan tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, vị trí cửa ngõ của hành lang kinh tế Đông – Tây và con người Huế; và tập trung nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ tiên tiến, hiện đại; thúc đẩy đổi mới sáng tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp, tăng cường cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân cho phát triển hạ tầng giao thông, đô thị và những ngành, lĩnh vực kinh tế có tiềm năng, lợi thế.
Nghị quyết 54 cũng đưa ra các mục tiêu hết sức cụ thể, cụ thể:
Đến năm 2025, Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trên nền tảng bảo tồn, phát huy giá trị di sản cố đô và bản sắc văn hóa Huế, với đặc trưng văn hóa, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh.
Đến năm 2030, Thừa Thiên Huế là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của khu vực Đông Nam Á về văn hóa, du lịch và y tế chuyên sâu; một trong những trung tâm lớn của cả nước về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc; Đảng bộ, chính quyền và toàn hệ thống chính trị vững mạnh; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân đạt mức cao.
Tầm nhìn đến năm 2045, Thừa Thiên Huế là thành phố Festival, trung tâm văn hóa, giáo dục, du lịch và y tế chuyên sâu đặc sắc của châu Á.
Nghị quyết 54 của Bộ Chính trị cũng đã đặt ra các nhiệm vụ, giải pháp, đó là:
- Tập trung mọi nguồn lực xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với đặc trưng văn hóa, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh; là trung tâm của vùng và cả nước về văn hóa – du lịch, y tế chuyên sâu, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ.
- Đẩy mạnh công tác quy hoạch và quản lý, thực hiện quy hoạch, nhất là quy hoạch đô thị theo hướng phát triển mạnh kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và thông minh, đặc biệt là kết cấu hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin, đô thị, bảo đảm sự hài hòa giữa kiến trúc với tự nhiên và đặc thù của Huế. Quy hoạch bố trí lại dân cư, sắp xếp hình thành các cụm ngành sản xuất. Tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng;
- Thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế cho phát triển kinh tế – xã hội, nhất là kinh tế tư nhân cho phát triển kết cấu hạ tầng và các ngành kinh tế mũi nhọn, có lợi thế;
- Xây dựng và ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển nhanh và bền vững Thừa Thiên Huế trên nền tảng bảo tồn và phát huy giá trị di sản Cố đô và bản sắc văn hóa Huế.
- Nâng cao hiệu quả liên kết phát triển vùng; mở rộng hợp tác và quan hệ đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh;
- Tập trung phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; củng cố vị thế là trung tâm văn hóa lớn và đặc sắc của cả nước;
- Gắn phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội;
- Xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở
Vai trò của đội ngũ trí thức Huế
Huế là địa phương có số lượng trí thức có học hàm, học vị cao trong cả nước. Với lợi thế này, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) có nhiều thuận lợi và cơ hội lớn để phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững, đồng thời khẳng định vị thế là một trong những trung tâm lớn của cả nước về văn hóa, du lịch và y tế chuyên sâu, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao.
Đại học Huế (Nguồn: Đại học Huế)
Đến nay, Huế có hơn 300 Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, Thầy thuốc Nhân dân, Thầy thuốc ưu tú, 45 Giáo sư danh dự, 318 Giáo sư, Phó Giáo sư; hơn 1.000 Tiến sĩ, gần 4.000 Thạc sĩ. Đáng chú ý, đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ đạt hơn 15.100 người.
Đội ngũ trí thức có mặt hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ các cương vị chủ chốt của hệ thống chính trị, quản lý nhà nước, các ngành kinh tế, kỹ thuật, khoa học công nghệ và khoa học xã hội nhân văn … đồng thời, đạt nhiều thành tựu to lớn trong nghiên cứu khoa học, đáng chú ý là những thành tựu về khoa học sức khỏe.
Huế đã ban hành và thực hiện nhiều nghị quyết, chương trình hành động và đề án về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; xây dựng và ban hành nhiều chính sách về công tác đào tạo và bồi dưỡng nhằm tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ trí thức phát huy năng lực, sở trường; đổi mới công tác cán bộ, quy hoạch cán bộ; tuyển dụng công chức, viên chức ưu tiên đối với những người có bằng tiến sĩ, thạc sĩ, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc; tôn vinh trí thức; đề cao trách nhiệm của đội ngũ trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các hội trí thức.
Nhờ vậy, đội ngũ trí thức của Huế ngày càng phát triển cả số lượng và chất lượng, có cơ cấu tương đối hợp lý, cơ bản đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra.
IV. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC VÀ HUẾ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Để phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức Huế đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của Huế trong giai đoạn mới, cũng như gắn kết đội ngũ trí thức tham gia tích cực vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần có một số giải pháp sau:
+ Trên lĩnh vực chính trị:
– Tăng cường khuyến khích đội ngũ trí thức Huế tích cực tham gia trong việc nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn để cung cấp những luận cứ khoa học khách quan, đề xuất hệ thống lý luận khoa học sát thực, tham mưu định hướng chiến lược cho Đảng, Nhà nước trong hoạch định con đường phát triển đất nước ở tầm vĩ mô cũng như ở từng lĩnh vực cụ thể;
– Khuyến khích đội ngũ trí thức Huế tham gia tích cực, có trách nhiệm trong công tác tư vấn, phản biện, đóng góp ý kiến vào từng chủ trương, đường lối, chính sách, chương trình, dự án, đề án phát triển đất nước và thành phố Huế; tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước, địa phương góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và quản trị của Nhà nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
– Cần coi trọng và có các chính sách đãi ngộ phù hợp để đảm bảo cho đội ngũ trí thức là thành trì vững chắc, là lực lượng chủ yếu, là chiến sĩ tiên phong trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.
+ Trên lĩnh vực kinh tế:
– Cần tiếp tục coi đội ngũ trí thức là bộ phận cơ bản của nguồn nhân lực chất lượng cao, là lực lượng sản xuất trực tiếp quyết định khả năng nâng cao năng suất lao động, tăng trưởng và phát triển kinh tế, là nhân tố nòng cốt quyết định trình độ, tốc độ phát triển và nội lực của nền kinh tế đất nước hiện nay.
– Khuyến khích đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu trong nghiên cứu, ứng dụng, phát triển các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, chuyển giao công nghệ, đổi mới dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất lao động của các ngành kinh tế, giúp đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Trên lĩnh vực văn hóa:
– Khuyến khích đội ngũ trí thức trong việc sáng tạo ra các công trình, tác phẩm văn hóa, nghệ thuật có giá trị cao, góp phần lưu giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; đồng thời, thông qua các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, góp phần làm cho nền văn hóa nước nhà ngày càng hiện đại, phong phú và tiến bộ, cũng như quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế và tiếp thu, truyền bá những tinh hoa văn hóa nhân loại vào Việt Nam.
– Nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức trong việc thẩm định, nhận diện, định hướng, tiếp nhận những giá trị văn hóa mới tích cực, tiến bộ, phù hợp và gạt bỏ những yếu tố phản văn hóa, “lai căng”, ảnh hưởng tiêu cực đến ý thức, lối sống của con người Việt Nam và sự phát triển của đất nước.
– Khuyến khích đội ngũ trí thức từng bước đưa văn hóa Việt Nam và Huế trở thành một ngành kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp văn hóa, để văn hóa không chỉ phát huy giá trị tinh thần, mà còn trở thành một nguồn lực trong phát triển kinh tế của đất nước.
+ Trong lĩnh vực xã hội:
– Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn trong và ngoài nước để nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, đủ khả năng tiếp cận trình độ quốc tế và khu vực, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế./.






