Ứng dụng thang điểm Donders nhằm phát hiện viêm âm đạo do vi khuẩn hiếu khí (AV) trong ba tháng cuối thai kỳ và tác động của AV đối với thai kỳ

Trạng thái đề tài:

Lĩnh vực: Y dược

Hoạt động: Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật

Năm: 2024

Ngày nộp đề tài: 27 Tháng Hai, 2024

Thông tin nhóm tác giả

Tên tác giả / nhóm tác giả: Nguyễn Thị Châu Anh; Lê Văn An; Nguyễn Thị Tuyền

Đơn vị công tác của chủ nhiệm: Bộ môn Vi sinh-Trường Đại học Y Dược Huế-Đại học Huế

Địa chỉ cơ quan của chủ nhiệm: Số 06 Ngô Quyền, Phường Vĩnh Ninh, Thành phố Huế

Tính mới của giải pháp

Năm 2002, thuật ngữ “ viêm âm đạo do vi khuẩn hiếu khí” (AV) lần đầu tiên được xác định bởi Donders et al. AV được đặc trưng bởi sự hiện diện của một số vi khuẩn hiếu khí như Streptococcus agalactiae, Enterococcus faecalis, Escherichia coli, tụ cầu coagulase âm tính (CoNS) và Staphylococcus aureus. Biểu hiện lâm sàng bao gồm tăng tiết dịch mủ (màu vàng hoặc vàng xanh), có mùi hôi, âm đạo đỏ (trong trường hợp AV nghiêm trọng, cũng có thể có những điểm xuất huyết và ăn mòn), cảm giác châm chích và bỏng rát và đau khi giao hợp. Các triệu chứng có thể xuất hiện trong một thời gian dài và mức độ biểu hiện có thể nghiêm trọng. Hiện nay, AV vẫn là một mối quan tâm đặc biệt đối với thai kỳ. AV thường bị chẩn đoán nhầm với viêm âm đạo do vi khuẩn kỵ khí (BV) do có rất nhiều đặc điểm chung về triệu chứng lâm sàng. Sự nhầm lẫn trong chẩn đoán có thể dẫn đến thất bại trong điều trị và liên quan đến các biến chứng thai kỳ như sinh non, vỡ ối sớm (PROM), sẩy thai, viêm màng đệm và nhiễm trùng sơ sinh. Việc tầm soát viêm âm đạo khi mang thai được thực hiện thường quy khi thai được 12–16 tuần ở hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên, tại Việt Nam không có quy trình xét nghiệm thường quy đối với phụ nữ mang thai nếu không có các triệu chứng cho thấy nhiễm trùng. Điều này có thể dẫn đến các nguy cơ liên quan sản khoa gia tăng, đặc biệt là tỷ lệ nhập viện sơ sinh đơn vị chăm sóc đặc biệt (NICU). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: Tỷ lệ phụ nữ mang thai được chẩn đoán mắc AV trong 3 tháng giữa thai kỳ là 15,5%, đa số các trường hợp (84%) biểu hiện AV nhẹ và 16% AV trung bình. Kết quả cấy dịch âm đạo của các phụ nữ có AV thấy rằng tỉ lệ các vi khuẩn là Streptococcus agalactiae (6%), tiếp theo là Enterococcus spp (4%), Staphylococcus aureus (4%), và Acinetobacter baumannii (2%). Ngoài ra, AV trong ba tháng cuối của thai kỳ là liên quan đến tăng nguy cơ nhiễm trùng hậu sản (OR 8,65, KTC 95%: 1,41—53,16, p = 0,020). Tính mới, tính sáng tạo: + Hiện vẫn chưa có xét nghiệm sàng lọc thường quy đối với viêm âm đạo do vi khuẩn hiếu khí ở thai phụ tại Việt Nam. + Là nghiên cứu đầu tiên trong việc phát hiện viêm âm đạo do vi khuẩn hiếu khí bằng phương pháp xét nghiệm đơn giản_nhuộm Gram có áp dụng thang điểm Donders.

Tính sáng tạo

- Là một nghiên cứu có giá trị ứng dụng, có thể triển khai ngay trong xét nghiệm thường quy tại Khoa Vi sinh ở tất cả các cơ sở y tế, bệnh viện trong khu vực và trong cả nước. Ngoài ra, kỹ thuật trong nghiên cứu còn áp dụng được trong giảng dạy thực hành cho sinh viên kỹ thuật xét nghiệm tại Trường Đại học, Cao đẳng trên toàn quốc. - Phạm vi ảnh hưởng: Tất cả các các cơ sở y tế, bệnh viện trong khu vực và trong cả nước; kể cả các trường Đại học Y trong cả nước.

Hiệu quả kinh tế xã hội

- Hiệu quả kinh tế: Nghiên cứu này là minh chứng cho việc áp dụng hiệu quả thang điểm Donders với sử dụng kỹ thuật nhuộm Gram đơn giản, hiện có trong phát hiện viêm âm đạo do vi khuẩn hiếu khí (AV) trong ba tháng cuối thai kỳ. Nhuộm Gram là kỹ thuật đơn giản, là xét nghiệm thường quy được thực hiện tại các cơ sở y tế và có giá thành thấp, 65.500 đồng/1 xét nghiệm. Giá thành của kỹ thuật nhuộm Gram thấp hơn nhiều so với kỹ thuật nuôi cấy (230.000 hoặc 287.000 tùy thuộc vào phương pháp định danh) (Thông tư liên tịch số: 37/2015/TTLT-BYT-BTC Bộ Y tế - Bộ Tài chính (2015), quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc). Hơn nữa, không phải cơ sở y tế nào cũng có thể triển khai được kỹ thuật nuôi cấy. - Hiệu quả xã hội: Nghiên cứu cho thấy có thể áp dụng quy trình kỹ thuật này như là một xét nghiệm thường quy với giá thành rẻ, nhằm phát hiện sớm viêm âm đạo do vi khuẩn hiếu khí đối với phụ nữ mang thai. Điều này có thể giúp ngăn chặn các nguy cơ liên quan sản khoa như nhiễm trùng hậu sản và nhiễm trùng sơ sinh sớm.

Kiểm tra lại

Ghép thận từ người cho chết: Thách thức và triển vọng

Thông tin nhóm tác giả Tính mới của giải pháp Tính sáng tạo Hiệu quả …